CHUYỆN 125:
ANH NĂM CHIẾN.
Chào bà con ạ.
Hôm nay tôi được rảnh, lại lai rai kể vài mẩu chuyện hầu bà con, chuyện của tôi thì lan man dài dòng lẩn thẩn lẩm cẩm nên nếu bà con có ngại đọc thì xin vui lòng bỏ qua nhé.
Hôm bữa vừa rồi giỗ anh Chiến, anh tôi mất cũng được nhiều năm rồi, và câu chuyện này tôi cũng ghi chép từ lâu phần vì bận bịu cũng không mấy khi mở máy coi lại, vừa rồi về nhà một anh bạn ở Bắc Ninh dự đám giỗ, gặp lại cậu con trai anh Chiến, người cháu cũng là đồng nghiệp mới nhắc, xưa con nhớ mấy chú với ba con cứ gặp nhau là thức suốt đêm nghe cha con kể chuyện ma tà rồi con thấy chú Sơn ghi âm với viết nhiều lắm mà sao chưa thấy chú đăng bài về cha con, con đọc coi hồi đó chú với cha con nói chuyện gì.
Ờ..nghe nó nhắc thì tôi cũng nhớ, tôi bảo nó chuyện cha con kể với mấy chú là chuyện nhà minhf, bố con thì thoải mái mà, chính ông còn kể cho mấy anh em cùng nghe còn nói chú Sơn viết lên báo mà chú Sơn hồi đó không dám viết..,giờ chú kể trên fb thì chắc cha con cũng đồng ý cho chú kể thôi, nhưng chú ngại tụi bay..
Nó nói không sao đâu chú, chú không viết địa chỉ thì có sao đâu, chuyện nhà con lạ lạ chú cứ kể cho mọi người nghe đi..
Ngày đó..
Tôi với anh Chiến, anh Tuỵ, anh Thiết… có một thời gian lang thang tha phương cầu thực nơi đất Thái cùng nhau, trước đó hồi còn ở Bắc Thái thì tôi với anh Thiết có ở với nhau, anh Chiến thì hơn tuổi chúng tôi, anh sinh năm 1956 và đã từng theo đại quân tiến về Sài Gòn tháng 4 năm 1975 từ hướng Ban Mê Thuột, anh là lớp đàn anh đi trước chúng tôi, anh hùng và dũng cảm.
Quê gốc anh Chiến thì tôi nghe anh kể quê anh đâu đó ở mạn rạch Cá Rô, Mộc Hoá tỉnh Kiến Tường cũ, giờ là Long An..anh cũng chỉ nhớ mại mại vậy vì anh là trẻ mồ côi, anh còn một người anh trai trên anh tên là Đắc bị bắt lính CH ngày đó, tới tận sau này cũng không tìm lại được nhau, chắc cũng tử trận rồi, và một người chú ruột nuôi hai anh em anh, người chú là du kích tên là chú Tư Ròng, chú Tư bị tàu tuần sông của Mỹ bắn hy sinh năm 67..
Anh Chiến theo du kích quân Giải phóng từ cuối năm đó, 12 tuổi anh đã tham gia trận Mậu Thân lịch sử cùng các anh các chú khác, sau trận đó thì tan tác, anh Chiến theo các anh các chú rút lên Tây Ninh.., cũng gian khổ vào sinh ra tử bao phen.
Sau giải phóng tưởng yên thì tới 78 biên giới Tây Nam bắt đầu nóng, các anh lại cùng nhau quay lại đơn vị nhận nhiệm vụ mới.
Khi tôi qua Surin thì các anh từ NaOy xuống và đón chúng tôi, lúc đó thì anh Chiến đã có gia đình rồi, tôi nghe nói chị làm việc ở một bưu điện nào đó ở thành phố, một lĩnh vực nghề nghiệp rất danh giá lúc bấy giờ..và anh chị chưa có con cái gì..
Một lần ở Surin anh Chiến và anh Thiết bị phục kích anh Thiết thì hy sinh còn anh Chiến bị thương vào đầu và vai, do lúc bị phục anh đã lao xuống sông và va vào chân câu cầu sắt anh bị mất trí nhớ một thời gian, anh không nhớ được gì cứ ngơ ngẩn suốt ngày, nghe mấy anh nói suốt ngày anh cầm một tờ giấy và tìm ông Chín Ri bán cà rem nào đó để mua cà rem, thế rồi sau một trận bị tái phát sốt rét anh lại trở lại bình thường sau khi hôn mê hơn hai ngày, khi khoẻ lại anh lại nằng nặc xin nhận công tác tiếp nhưng không được, nằm điều dưỡng một thời gian thì anh phục viên..
Sau một thời gian khá dài anh em không gặp nhau, bẵng đi tới chừng đâu năm 98 hay 99 gì đó tôi không nhớ nữa, trong một lần hội ngộ ở Xô Viết Nghệ Tĩnh vô tình tôi lại gặp anh và một người anh em nữa thương binh nặng ở Hậu Giang.., khác với cậu em kết nghĩa ở Hậu Giang, lúc đó anh Chiến nhìn khá khoẻ mạnh so với vài anh khác.., sau lần đó anh em giữ liên lạc với nhau và anh mời tôi về thăm nhà anh, lúc về nhà anh thì tôi ngớ người khi anh hét gọi “sắp nhỏ” đâu ra chào chú, bây.., vì “sắp nhỏ” nhà anh lúc đó toàn như thanh niên lớn tướng cả rồi, với tuổi của anh thì tầm đó con cái lớn như vậy thì cũng không lạ lắm, nhưng cái tôi lạ là thời điểm tôi còn ở cùng anh bên Thái thì lúc đó anh nói chưa có con..
Hoá ra cơ sự là khi anh đi làm và bị thương thì chị vợ đầu ( chị này thì sau tôi biết, chị tên Cúc, giờ cũng khổ lắm, nghe nói đang yên lành thì bán hết nhà cửa tính vượt biên, lừa cả anh Năm Chiến mớ nữa, rồi loanh quanh sao lại bị người khác lừa, mất sạch rồi về ở khu xóm nhà chòi bên quận Tư, con cái thì thấy nói cũng không được ổn lắm, bị bắt đi cai nghiện, người thì đi tù.. chồng thì theo bồ nhí..) , đã bỏ anh và lấy chồng khác mà anh không hay gì, tới khi anh biết bị phụ bạc thì anh cũng chỉ im lặng chịu đựng..
Anh gá nghĩa lần hai với chị sau, chị tên chị Năm Hạnh.
Chị Năm ngày đó vất vả lắm, chị cũng không còn nhà cửa tài sản gì do anh chồng cũ bán hết gom tiền đi vượt biên.
Anh chồng trước của chị Năm lúc đó thì nghe nói làm tài xế, gia cảnh cũng không tới nỗi khó khăn quá nhưng không hiểu nghe ai dụ dỗ rồi bán nhà bán cửa tính đi vượt biên, rồi chắc cũng bị lừa gạt hết và thủ tiêu ở đâu đó vì thời điểm những năm 86 tới 89 những vụ việc kiểu đó xảy ra khá nhiều.
Một nách 5 con nhỏ, chồng thì vượt biên không tin tức gì, nhà cửa không còn phải ở đậu người ta.., chị Năm đành dắt díu đàn con lít nhít lên khu An Sương kiếm đại bãi đất trống dựng mái lều ở tạm, lần hồi buôn bán nuôi các con, quê chị thì cũng ở Mỹ Hạnh, Long An..,
Anh Chiến lúc đó về làm bốc xếp, xe lôi ở An Sương gặp chị Năm đi bán bánh bưng, cùng đồng hương cùng lần hồi qua ngày với nhau rồi anh chị nên duyên mới, thế là anh Chiến “Ba khía” của tôi thành anh Năm Chiến.
Ngày xưa tôi chưa biết tên anh, anh là quân chú Bảy H, thấy chú hay kêu anh là Ba Khía, với một anh khác kêu là anh Ba Rọi.., anh Ba Rọi thì trẻ hơn anh Chiến và rất đẹp.. gái, nếu giả gái còn đẹp hơn gái xịn, chắc vậy nên chú Bảy gọi thế.
Chuyện về anh Năm Chiến thì nhiều, hay và ly kỳ lắm, tôi ở với anh thì ít thôi nhưng nghe các anh khác kể về anh rất nhiều, tôi sẽ kể dịp khác giờ kể bà con nghe những chuyện “lạ” về gia đình anh mà tôi được nghe anh và những người con của anh kể để cho bà con nghe.
Ngày đó sau khi bị thương rồi phục viên, anh Năm được phân một căn nhà ở đâu gần khu bến xe Chợ Lớn bây giờ, loanh quanh thì chị Cúc vợ đầu của anh Năm tìm gặp lại, dụ ngon ngọt sao đó nói bán đi mua căn nhà khác nhỏ hơn trong hẻm, dư tiền ra rồi chị bày đường cho làm ăn, anh Năm khi đó biết chị Cúc đã có chồng mới nhưng anh nghĩ chị Cúc thấy thương hoàn cảnh mình nên chỉ đường làm ăn cho nên anh vẫn tin, ai ngờ đâu bán xong nhà chị Cúc ôm hết số tiền nghe đâu mười mấy lượng vàng rồi đi biệt tăm luôn..
Vết thương cũ cả thể xác lẫn tâm hồn còn chưa lành hẳn, thì lại thêm vết thương mới, anh Năm chỉ biết ôm mặt khóc một mình vì cay đắng.
Anh Năm tay trắng ra hè phố đi làm mướn qua ngày, được bạn bè giúp lên An Sương bốc xếp, làm mướn gì đó bởi lúc đó ai cũng khó khăn.. rồi biết và quen chị Năm ở đó.
Khi anh Chiến về ở với chị Năm, có một người anh của chị Năm trước đó đưa cả nhà đi vượt biên bỏ lại toàn bộ nhà cửa lại, nhà của người anh đó ở gần khu chợ Bà Lát, Cầu Xáng bây giờ, tôi đã đến khu đó chơi nhà anh Năm, được anh Năm chỉ cho thấy.
Lúc đó thì đường xá chưa làm và mấy khu công nghiệp nhà máy chưa xây…nhiều chỗ thấy còn hoang vu rậm rạp lắm, ngày thì bìm bịp bay như chim sẻ, đêm thì ếch nhái kêu inh tai.
Ngày anh chị Năm về đó tầm cuối thập niên 80 cuộc sống dù đã đỡ hơn phần nào so với hồi đầu lúc mới giải phóng nhiều, nhưng nhiều nơi, nhiều nhà vẫn còn khó khăn lắm, nhà anh chị Năm cũng vậy, nên có ngôi nhà người anh chị Năm bỏ lại vài năm trước, có vườn bãi lại có kinh rạch xung quanh anh Năm tuần hai lần đi xe lam xe đò lên đó trồng rau hái trái cây và bắt mớ cá cua bẫy chuột, rắn.. mang về cùng chị nuôi các con, ban đầu thì vậy sau thì anh thấy những vườn bãi bỏ hoang phía bên phải kinh Cầu Xáng đi lên, anh vào đại đó phát cây dại trồng thêm bí bầu, rau cỏ, rồi anh chia ra, chị thì bán bưng kiếm gạo, anh thì kiếm cá kiếm rau, chăm thêm trái cây…
Hai ba giờ sáng anh Năm cùng với hai cậu con trai lớn trong nhà đã phải dậy ra đi nhờ xe tải rồi xe lam từ An Sương lên rồi lội bộ rất xa vào những khu vườn bãi làm lụng.., anh Năm chỉ dẫn con cái từng chút một những kỹ năng sinh tồn trong bao năm chinh chiến rừng rú của anh được anh lôi hết ra trộn với mồ hôi cùng nắng mưa để cố gắng biến nó thành trái ngọt..
Tới lúc cuộc sống tạm dễ thở hơn chút thì anh chị quyết định chuyển hẳn từ An Sương về căn nhà của người anh trai chị Năm để ở, tưởng được yên ổn thì đùng một cái ngôi nhà đó bị niêm phong vì chủ nhà đã vượt biên trái phép, ngày đó thì thủ tục pháp lý đâu như bây giờ, nên anh chị cũng đành phải chấp nhận rời bỏ căn nhà tạm gọi là yên ổn ra mảnh đất bãi hoang nơi anh Năm khai phá trồng trọt, khi biết hoàn cảnh của anh Năm, và thương tật thì địa phương cũng có tạo điều kiện cho anh dỡ được gì thì lấy từ căn nhà của người anh trai chị Năm và đem ra dựng tạm căn nhà ngoài bãi, rồi họ cũng làm giấy cho phép anh Năm được sử dụng chỗ đất hoang anh khai phá bấy lâu, mảnh đất rộng lắm.
Anh chị chuyển ra nơi ở mới rồi cùng nhau ra địa phương xin cấp hôn thú mới cho danh chính ngôn thuận và anh Năm cho mấy con nhỏ đi học.
Anh chị tiếp tục bới đất vật cỏ, giật gấu vá vai nuôi các con đi học và gây dựng cho mái ấm của mình.
Chị Năm thì nhỏ anh Năm gần chục tuổi, chị sinh năm 63, 17-18 tuổi đã lấy chồng rồi đẻ liền tù tì gần như năm 1, người con đầu sinh năm 80 tới người con út sinh năm 87, khi gặp anh Năm cô bé này mới có hai tuổi..còn bé xíu, anh Năm đặc biệt thương cô bé út này và thật lạ là sau này càng lớn cô càng giống anh Năm, từ mặt mũi cũng như tính nết, thói quen.., giống tới độ nếu không biết hoàn cảnh anh chị thì ai cũng nghĩ đó là con ruột của anh Năm, anh chị ở với nhau và không sinh người con nào thêm nữa.
Cô bé út này chỉ bám anh Năm, chị Năm có kể lại là ngày đó anh toàn phải ẵm hay địu cô bé này đi làm, ngủ cũng phải bám chặt anh Năm, ba bốn giờ sáng dậy đi vào vườn làm cùng hai cậu con lớn, cô út cũng dậy theo nhất định không chịu rời cha, anh Năm phải địu theo trên lưng, vào đó vừa làm việc vừa trông chừng con.
Cả sáu người con đều là con riêng của chị nhưng anh đều thương và chăm lo hết mình, nhưng anh Năm đặc biệt thương cô út nhất tại vì khi sinh nó ra thì chị Năm chẳng còn nhà cửa, thiếu thốn và sống cảnh tạm bợ, chẳng có điều kiện chăm sóc như các anh chị lớn nên cô bé này còi cọc lắm, lăn lóc ngoài mưa nắng suốt muỗi mòng cắn tới ghẻ lở khắp người, cậu con trai lớn vẫn kể nhiều đêm anh Năm đội mưa đi xin lá trầu rồi đẽo vỏ cây xà cừ về lọ mọ đun nước tắm ghẻ ngứa cho cô bé này, có gì ăn ngon cũng phải nhường cho cô bé phần hơn “cha nhường hết cơm cho anh em tụi con ăn, cha không bao giờ đụng vào đồ ngon chỉ ăn củ mỳ hay khoai, với rau, bắt được chuột thịt cho tụi con ăn cha chỉ ăn cái mẩu đuôi, cha nói cha thích ăn đuôi..có lần con đòi ăn thử rồi khen nó ngon..thế là cha cũng nhường con luôn không ăn nữa từ bữa sau..ngày đó con còn nhỏ nên vô tâm lắm..” người con trai cả sau này công tác cùng ngành với tôi đã vừa khóc nấc nghẹn vừa kể lại những năm tháng đó, khiến tôi nghe thôi cũng phải rơi nước mắt..
Từ khi ra ở bãi thì bắt đầu có nhiều chuyện xảy ra với gia đình anh chị, tôi được nghe anh Năm kể hai lần và hai cậu con trai lớn kể nhiều lần thế này.
Sau khi chuyển ra hẳn chỗ đất mới ở bãi hoang, anh chị ngày đêm làm lụng vá víu tất cả mọi thứ cho thành một ngôi nhà cho các con ở tránh mưa nắng, được chút tiền trợ cấp thương tật công tác đặc thù và anh em có điều kiện hơn giúp thì anh chị cũng có được mái nhà tạm gọi là tử tế, các con cũng lớn dần..
Lúc đấy thì nơi đó chưa có nước máy anh chị phải lấy nước từ một cái đìa nhỏ như hố bom cũ để sinh hoạt. Cái hố nước đó khá sâu, anh Năm cẩn thận lấy cây làm thành một hàng rào chắn phía bên hay ra lấy nước và tắm giặt, bên kia thì là một bụi rậm trùm kín.
Thời gian mấy tháng đầu ở đó thì không thấy có gì lạ cả, tới chừng được khoảng đâu hai ba tháng sau thì chị Năm thường thấy đau đầu khó chịu hay mất ngủ hoặc tỉnh ngủ trong đêm, rồi bồn chồn bất an, tưởng mình bị bệnh chị kể với anh, anh Năm thương vợ nên bảo chắc do làm nhiều nên suy nhược cơ thể, anh nói chị nên nghỉ ngơi nhiều, việc nọ kia để anh làm..
Rồi chị Năm bắt đầu hay mơ thấy một hai người lạ nào đó cả đàn ông và đàn bà thường hay quấn tóc chị vừa lôi chị quanh nhà vừa bắt chị phải thịt gà vịt đang nuôi cho họ ăn.
Một vài lần chị Năm nghe mấy đứa con nhỏ có nói có mấy cô chú hay hù con buổi tối, cô chú ở dưới hồ nước đi lên hù tụi con rồi lại chạy xuống đó.
Vài lần khi nằm ngủ nghỉ ở chiếc võng dù thì chị Năm nói chiếc võng bắt đầu đung đưa dù chị không hề đưa, càng lúc nó càng đưa mạnh và cao, có lúc chị muốn như văng ra ngoài, chị tưởng mấy đứa nhỏ giỡn chị đẩy võng vậy nhưng mở mắt coi thì lại không phải, mà là có một người đàn bà xa lạ đứng nhe răng cười tay thì đẩy võng chị, bất ngờ và giật mình hoảng hốt chị vùng vẫy tuột khỏi võng rớt xuống đất không biết đang tỉnh hay mơ nữa.
Chị kể với tôi; Tui đang nằm ngủ võng bế con út Muỗi ( tên ở nhà của cô con út) lúc đó mới hơn chập chập ( chắc chừng 7 rưỡi 8 giờ tối) vừa chợp mắt ngủ vì trời mưa mát thì bỗng dưng có hai người tới đứng ngay võng, người đàn ông thì nắm chân tôi nhấc lên cao cho dốc đầu xuống, rồi thả ra, rồi tới người đàn bà nắm tóc tôi lôi xuống đất và nói tao nói nấu đồ cho tụi tao ăn sao mày hổng làm, mày muốn tao bóp con mày chêt không? Tui sợ quá mà hổng kêu ra miệng được lắp bắp mãi mới choàng dậy được, thấy mình vẫn nằm trên võng mà mái tóc đau lắm như có ai vừa xoắn lấy kéo thật, lúc đó thì tui đoán đoán là có “người ta” thật ở đâu quanh nhà mình rồi..
Một lần gần tết thì anh chị có mua được ít gạo, và một hai bộ đồ mới cho con, chị nhặt ít trứng vịt đem vô nhà tính luộc làm đồ kho ăn tết, anh Năm đi phụ bốc hàng lên xuống ghe chưa về, tới gần nửa đêm chị Năm mới ra đìa tắm rửa tính vào ngủ, vừa vào nhà thì thấy có mấy bóng người lố nhố bu quanh cái bàn gỗ, cả nhà có mỗi cái bàn gỗ cũ chị để đồ trên đó, người thì mặc đồ của con chị mà nhìn thì mặt mũi nhăn nhúm già nua, người thì bốc gạo bỏ vào đầy miệng, người thì bỏ cả quả trứng vào miệng rồi cứ trợn mắt nhướn cổ lên như muốn nuốt mà bị mắc, trông thấy vậy thì chị Năm hét ầm lên rồi lăn ra đất xỉu luôn, mấy đứa con nghe động vội nhào cả dậy chạy ra khiêng chị vào nhà, chị kể rằng đó là lần chị thấy họ nhiều nhất và rõ nhất.
Hôm sau anh Năm về thì mấy mẹ con kể với anh, anh ngồi nghe và chỉ im lặng gật đầu đăm chiêu nghĩ ngợi, sau đó thì đi đâu làm gì anh cũng cố về nhà dù đêm muộn.
Anh Năm thì ở gần người Cao Miên từ nhỏ, dù chưa thấy tận mắt “ma tà” bao giờ nhưng anh đi nhiều và nghe nhiều người kể ba chuyện lạ đó nên anh cũng nửa tin nửa ngờ, lần đó nghe vợ con kể thì anh cũng nửa tin nửa ngờ thôi, và chưa biết phải làm sao..
Thế rồi chính anh Năm đã gặp.
Qua cái tết năm đó, mới giữa tháng 3 trời đã mưa sớm, anh Năm kể anh nhặt nhạnh vỏ xe cao su cũ, và chẻ cây làm đuốc soi chứ lúc đó chẳng có nổi cái đèn pin mà đi soi ếch, đêm mưa anh Năm cùng chị với hai cậu con trai đi soi bắt được rất nhiều ếch, ngày hôm sau anh bảo vợ con ở nhà nghỉ ngơi mình anh đi bắt tiếp, anh nói đi tới sáng tờ mờ.. thấy được nhiều anh trở về, tới cái đìa nước ở nhà anh để cái giỏ đục xuống, lội xuống đìa tắm rửa để vào ngủ, đang rửa ráy bỗng nhiên người anh rùng mình lạnh buốt, chân tay bủn rủn như bị gió độc, cảm giác sợ hãi một cái gì đó mơ hồ lắm, là người lăn lộn rừng rú trận mạc đạn bom chêt chóc đã nếm trải cả, nhưng cảm giác sợ hãi một điều gì mơ hồ vậy thì anh chưa trải qua bao giờ.
Anh vội vàng lên bờ sách cái đục đựng ếch tính quay vào nhà, vừa quay người lại thì hỡi ôi, ngay trước mặt anh có vài người nào đó, anh kể trời đủ sáng rồi nên anh không nhìn lầm, “người ta” ăn mặc như người nay cũng có, bà ba đen vận quần cụt, rồi đồ kiểu như ngày xưa cũng có, có cả người như bận đồ của lính Pháp với lính Cộng Hoà nữa..có điều là nhìn rách rưới cũ kỹ lắm, cả đàn ông và đàn bà tôi nhìn rõ lắm, anh Năm nói.
Mấy người đó cứ đứng nhìn anh chỉ cách anh chừng vài mét, anh Năm nói còn ngửi thấy cả mùi mốc mốc từ phía họ, vừa giật mình vì bất ngờ vừa hãi..anh Năm giật lùi giật lùi lại rồi ngã ùm xuống đìa nước, rớt cả cái giỏ đục đựng ếch, anh vội vùng vẫy choài lên bờ, nhìn thì không thấy còn cái “đám đó” đứng đó nữa, vừa lật đật đứng dậy thì anh nói tóc tai lông lá bỗng dưng như dựng ngược hết lên và cảm giác sợ hãi lúc nãy lại trở lại, rồi tự nhiên anh quay ngoắt đầu sang bên anh nói, tao nhìn thấy có hai đoạn giò mày ạ, một cái giò tới trên đầu gối, một cái thì như cụt ngang ống chân, không thấy hình người nào bên trên, hai cái giò trắng nhách dài sọc nhìn y chang xác trôi sông, rồi tao nghe như nó nói bên tai tao, mà lạ là nó nói không phải là tiếng ta đâu ( ý anh nói là tiếng Việt) nó nói tiếng Pháp, tiếng Pháp thì tao biết..nó nói ý là phải cúng đồ cho nó ăn thường xuyên không nó bắt con tao xuống đó hầu nó..đại khái vậy.
Dù sợ lắm nhưng anh Năm vẫn vùng dậy cắm đầu chạy vào nhà, bỏ luôn cả cái đục ếch lại, anh chạy vào chui vội vô mùng cùng chị hai và đám nhỏ.
Chị hai thì nói thấy ổng chui vào người ướt nhẹp run lập cập lạnh mà hỏi ổng sao thì không có nói gì..
Chị Năm kể là sáng chị ra nhặt cái giỏ đục đựng ếch thì thấy trong đó toàn đá đất với củi mục, còn ếch thì bị dồn một đống đổ ngay bờ đìa, lạ cái là vừa mới chỉ hơn giờ đồng hồ là cùng mà ếch như sình lên có mùi rồi..
Sau đó chừng tháng, ban đêm anh Năm vẫn đi soi ban ngày anh làm nọ kia.
Một buổi trưa trời mưa, anh Năm nằm trên võng thiu thiu ngủ, vừa chợp mắt thì cửa nhà tự nhiên mở rộng ra mưa bụi bay cả vào mặt anh lạnh toát, anh lại thấy hai cái bàn chân cụt cái ngắn cái dài đó, nó như một người đứng giữa nhà dù chỉ có mỗi hai cái chân cụt, phía trên có hình lờ mờ như hình người, đó là một thằng tây trắng thì phải và hai tay nó như đang xách hai đứa con anh, trong đó có cô bé út Muỗi..
Từ nỗi sợ hãi bất ngờ anh Năm chuyển sang giận dữ khi nghe “nó” đe doạ sẽ bắt con anh..anh vùng phắt dậy tìm cây rựa, và lộn nhào từ võng xuống đất đau điếng, mở mắt ra thì chỉ là một giấc mơ, nhưng cửa nhà thì đúng là mở toang ra và có những dấu nước như vừa có ai đứng ở giữa cửa..
Anh Năm vội lao vào nhà trong vén mùng nhìn, may quá ba đứa nhỏ vẫn đang nằm ngủ, hai đứa lớn một đứa theo mẹ ra chợ một đứa đang đi câu cá.
Anh Năm vội vào ôm ba đứa con khiến chúng đang ngủ cũng giật mình tỉnh dậy ngơ ngác.
Sau đó vài bữa nữa thì một hôm đang làm ở cuối vườn anh nghe tiếng chị Năm cùng lũ nhỏ la hét, anh vội bỏ đó chạy về, tới cái đìa nước thì thấy chị Năm đang ngụp lặn ở đó miệng la hét, hai ba đứa nhỏ đang đứng trong nhà cũng la khóc om sòm, dù không biết chuyện gì nhưng anh Năm cũng vội lao xuống đìa nước tính lôi chị Năm lên thì chị hét; Con , con đang dưới đó anh ơi..
Thấy vậy anh Năm vội lấy hơi lặn xuống mò tìm, bình thường nước đã khá sâu, gặp mùa mưa nước càng nhiều, lặn tới lần hai lần ba anh Năm mới vồ được thằng nhỏ thứ hai tên Thuật khi kéo nó lên thì anh lại bủn rủn nổi gai ốc, dưới làn nước anh lại thấy như có một gương mặt của thằng tây trắng hôm trước anh thấy và vài gương mặt nữa phía sau, thằng tây như đang cười nhìn anh.
Cứu được con lên ngay, nó chỉ bị xỉu chút rồi tỉnh lại ngơ ngác rồi khóc ầm ĩ rồi như lơ ngơ lơ ngơ sao đó..
Chị Năm nói thằng nhỏ đi học về, vừa ăn cơm xong nó nói con ra vườn với cha, chị Năm đang nằm võng nhìn thấy nó cứ đi như mê ngủ ra thẳng cái đìa nước rồi từ từ lội xuống chìm lỉm..chị vội bật dậy vừa la làng vừa lao ra nhảy xuống kéo con lên nhưng không kéo được, may anh chạy về kịp.
Tới bữa sau nhờ ông hàng xóm tên ông Bảy Hơn làm “phép gọi vía” gì đó cho nó, nó mới dần tỉnh táo lại, anh chị hỏi nó tại sao lại xuống đó thì nó nói có mấy người lạ tới lôi tay con ra rồi bịt miệng không cho con la.
Mà là là nó biết bơi biết lội hẳn hoi chứ không phải là không biết lội, vậy mà vẫn chìm suýt thì đuối nước.
Sau đó thì ông Bảy Hơn chỉ cho anh Năm qua Tân Thông Hội nhờ ông thầy nào đó tên gì tôi cũng không nhớ nữa, chỉ nghe nói ông này người Miên và giỏi thuật lắm, anh Năm thì cũng có nói với tôi là xưa thời trẻ lăn lộn ở những khu vực có người Cao Miên sinh sống anh cũng từng có “liên quan” chút tới những thuật gọi là “bùa chú” của người Miên, anh cũng từng “bái sư học đạo” một chút môn này, tuy nhiên sau đó thì do hoàn cảnh nên anh không thể theo được nữa và tuy có biết có theo nhưng “áp dụng” thì anh chưa từng..
Nên sau khi nghe ông Bảy chỉ đường thì anh Năm như sực nhớ ra, anh Năm cất công đi tìm lại một trong những bạn “đồng môn” của mình từ xưa, may mắn sao là nghe nói người bạn đó của anh Năm giờ đã làm “Thầy” và đang “hành nghề” lén lút, vì thời điểm đó ba cái vụ dị đoan thì ú ớ là bị bớ ngay.
Người bạn anh Năm đã cho anh Năm một “đạo bùa” gì đó rồi dùng “pháp hộ” và “dẫn nhập”…
Anh Năm cùng anh bạn đã về nhà lập “trận pháp” bài binh bố trận..đâu mất bốn năm ngày mới “dẫn nhập” được, tôi nghe nói thuật “dẫn nhập” này là một “thuật chú” bí ẩn của các “thầy bùa” họ dùng thuật này để “triệu hồi” linh hồn người chêt lên để nói chuyện hay “giao lưu” gì đó, nó na ná như kiểu mấy thầy đồng gọi hồn bây giờ hay làm, nhưng nó bí ẩn và mạnh hơn, gọi phát là đúng tên đúng tuổi đúng địa chỉ chứ không phải kiểu”lùa gà” như thầy bà giờ làm.
Tôi nghe anh Năm kể anh gọi mãi mới được “thằng tây” kia lên..theo như anh Năm nói thì nó là lính Pháp ngày xưa, có binh có quyền hẳn hoi chứ không phải lính trơn và nó chêt trận ở đó, giờ nó kiểu như cai quản các “vong” vất vưởng ở quanh khu đó kể cả người xưa và người nay, nó là người theo đạo Hồi thì phải..
Anh Năm và anh bạn đã phải chật vật “giao lưu” với nó, nghe anh Năm nói thì tao chỉ giao lưu “mõm” thôi ko giao lưu võ thuật, còn hình như bạn tao còn phải uýnh nhau với nó hay sao đó mình mẩy mấy bữa thâm tím hết đau ê ẩm phải nằm ăn cháo dưỡng thương..
Anh Năm kể tao điên lắm, tới tầm đó động tới vợ con tao thì tao không còn ngán ba cái “ma tà” nữa, tao đã “giao kèo” với nó mày tạm để tao yên khi nào tao “ngủm” thì tao xuống chơi tay đôi với mày sau, vì tao ở đây không có “phạm” gì mày mà tự dưng mày “khều” tao rồi bắt tao phải cúng bái cho mày ăn nhậu..còn mày cố tình hại vợ con tao tao tự vẫn ngay lập tức xuống đó tìm mày, tao tìm bằng được uýnh cho mày má cũng ko nhận ra nữa coi mày bảnh cỡ nào..
Anh Năm cay lắm vì nghe anh kể là anh đã từng nhún nhường khi phải làm đồ ăn cúng dâng nó, nhưng thằng này được voi thì đòi thêm Hai bà Trưng, nó đòi anh phải mua cả rượu dâng cho nó, đồ ăn thì cúng xong còn con cái còn được ăn ké, còn rượu nó bắt đổ hết ra bờ đìa cho nó, thời buổi thì đã khó khăn lại còn mua rượu đổ đi nữa..chị Năm cũng than thở, mà đồ cúng “người ta” xong ăn hổng có vô nổi nữa em ơi, nó nhạt lắt nhão nhè ra ngày đó đói kém dám ăn chứ như giờ có bắt tôi cũng chả dám đụng..
Rồi bạn anh Năm làm “phép” kiểu kiểu như phá võ đường giải tán môn sinh của nó, vì nghe như anh Năm giải thích là nó bắt các “vong” ở quanh đó phải về hầu hạ nó rồi bắt người ta phá phách hù doạ người sống để vòi vĩnh nọ kia..vì sau đó thì anh chị Năm nói không còn chuyện nọ chuyện kia xảy ra, mà còn một đôi lần chị Năm có nằm chiêm bao thấy có mấy người rẽ qua chào anh chị rồi đi đâu đó, chị kể có lần nửa đêm chị còn thấy rõ có một cô gái đứng ngay giường nơi mấy đứa nhỏ ngủ người này cúi xuống xoa đầu bé út Muỗi và còn đắp cho nó một tấm chăn nhỏ màu đỏ, chị giật mình vùng dậy chạy tới thì cái bóng đó biến mất nhưng cái cửa mùng chị đã giém kỹ lại mở bung ra và chị có ngửi thấy một mùi gì đó rất thơm..và cô bé út Muỗi đó sau này rất thành đạt, học hành giỏi giang càng lớn càng xinh, ngoan và có một gia đình rất khá giả, êm ấm với con cái hạnh phúc, giờ cô nhỏ vẫn ở quận 7, nhà biệt thự to đùng thỉnh thoảng vài anh em tôi cũng ghé qua thấy người sang bắt quàng làm họ, đập cửa ầm ầm hét gọi con Muỗi đâu nấu chú bữa cơm ăn chơi bay.., nó rất quý và hay nói chuyện với tôi coi tôi như cha chú thì tôi mới dám vậy thôi, chứ như người khác thì tôi đâu có dám vậy..
Sau đó thì sang những năm 90 cuộc sống nhiều thay đổi, đời sống anh chị Năm khá lên rất nhiều sức khoẻ anh chị cũng tốt lên, anh cho hai cháu đầu theo binh nghiệp ra Bắc học và công tác ở Hà Nội, cháu nào cũng gia đình êm ấm, còn anh Năm thì bắt đầu quay qua ngày đêm tập..võ, giống như bọn tôi, anh thích dao găm, anh chơi rất giỏi môn đó, anh xin anh em một cặp dao lê của anh em K đã qua “sử dụng” về nhà ngày đêm tập và mài rất sắc gần như lúc nào cũng để trong tầm tay.
Trước năm anh Năm mất, anh Năm mất năm 2010, anh Năm hay dặn chị và các con cha mất là các con phải bỏ cặp dao lê này vô quan cho cha để hai tay cha lên hai cây dao này.., cha có bệnh cỡ nào khi cha sắp mất cũng phải mang cha về nhà để cha mất, không được để ở viện..
Chị Năm và cậu con cả có kể lại, khi anh Năm mất tắm rửa anh xong thì liệm, trong lúc lu bu tang gia bối rối mọi người không nhớ gì vì anh mất đột ngột lúc đang khoẻ mạnh chứ không bệnh tật gì, khi xếp thi hài anh vào quan, người ta đã để hay tay anh ấp lên bụng, lạ thay là cứ một lúc hai tay anh lại giơ lên và mắt lại như hé mở ra, tới khi chị Năm lúc đó nhớ lời anh dặn vội mang cặp dao tới kê cạnh hai bên người anh, có nhiều người đã ngăn cản vì hình như người ta kiêng cho sắt thép vào quan chôn cùng thì phải.., nhưng chị và các con nhất quyết làm theo lời anh dặn, rất lạ lùng là hai cánh tay anh tự hạ xuống đè lên hai cây dao và hai mắt anh cũng nhắm lại, khuôn mặt anh như dãn ra, trước đó thì chị nói mặt anh như nhăn nhó chân mày nhíu lại..
….
Tôi nghĩ có lẽ anh muốn thủ theo hai cây “hàng” để xuống đó có “vốn liếng” đồ nghề phòng có gặp “thằng tây” đó đón như lời anh từng nói với tôi.
Tôi nghĩ vui vậy thôi chứ tây tàu gì còn sống dân Việt, lính Việt cũng còn chả ngán chả ngại nói gì tới chêt rồi, đụng là chơi thôi chứ ngại gì, càng tây thì càng to mà càng to thì càng dễ trúng thôi phải không bà con.