CHUYỆN 132:
CHUYỆN CŨ THỜI TÔI LÀM CỬU VẠN
Chia tay bất ngờ với con voi Phai xong tôi sang Sisaket, anh Bảy sắp xếp cho tôi cùng anh Vat qua làm thuê cho một “chị đại”.
Chị đại này tôi cố nhớ mang máng tên thật là Khaeng Na..L..thì phải, nhớ nhất là cái chữ đệm của chị, chắc là dòng dõi quý tộc vua quan vì tôi thấy tên có chữ đệm Na, dòng dõi quý tộc Thái hay có chữ đệm Na, tên mọi người hay gọi chị là Na Oan, (Wan là Vân) tên và tiếng Thái hay chữ viết nhiều từ khá giống âm Hán Việt ở ta thì phải, chị là người gốc Pali.
Người Thái hay gọi nhau bằng biệt danh như người miền Nam ta, nhiều tên biệt danh có nghĩa và cũng nhiều tên vô nghĩa lắm, như Quẹo, hay Tí, Tèo, Lủng..vv ở ta vậy.
Nhà chính của chị đại này ở trên Khukhan giàu kinh khủng, biệt thự to đùng rộng ước chừng phải cỡ 2-300 mét vuông, nhà có cả sân “góp” mini, hồ bơi, vườn cảnh.., đất rộng gọi là mênh mông, chị Oan có cả gần trăm chiếc xe tải chở hàng hoá buôn bán đi khắp nơi, chị làm cả mỏ khai khoáng nữa, nói chung là rất giỏi và giàu.
Lúc mới qua làm cho chị thì tôi đi theo xe chở hàng.
Tôi với anh Vat và anh PuPienh đi một xe, tôi vừa làm lơ xe, vừa làm bốc vác, cửu vạn, được chừng hơn tháng thấy tôi chịu khó, biết việc thì bà ma đam Lui, một quản lý thân tín của chị Oan, bà này là đàn bà nhưng cắt tóc và ăn mặc như đàn ông, tướng tá dữ dằn quyết liệt và quản lý rất giỏi, điều tôi vào trong Samsai chỗ cây xăng dầu ngay đầu cầu sông Chan chảy vào hồ Sala, sau anh Vat lại xin bà Lui cho anh em tôi sang Sepai, ngay ngã ba lộ 28 với lộ 41 và lộ 01 lên hướng cửa khẩu Sangam thông sang Cam.., từ lộ 41 rẽ vào chừng 2 chục km, khu vực nông trang chỗ đó vừa sát rừng vắng lại nguy hiểm nên nhân viên không trụ được lâu, chẳng ai muốn ở đó.., ở đó có con đường mòn xuyên rừng núi sang Anlog Veng lính Pot rậm rịch ngày đêm rừng núi rậm rịt chập chùng âm u lắm.
Ở đó thì tôi vẫn là thằng cửu vạn kiêm lâm tặc, nhưng oai hơn ở Surin là tôi có cả xe hơi và xe honda để đi lại, tôi thường đi chiếc xe đờ rim, mang tên Dream nhưng nhìn nó khá lạ, trông hình dáng giống chiếc honda 67 nhưng mập bự hơn chút, nhiều chi tiết lại giống chiếc cub 50 ngày xưa, ở Việt Nam gần như tôi chẳng thấy nó bao giờ.
Các đại gia Việt mãi tận những năm 2000 mới được lái xe bán tải, còn tôi được lái nó từ những năm tám mấy, quả là oai như cóc cụ, có điều những chiếc xe xưa không đẹp như bây giờ, nhưng với tôi lúc đó thì là cảm động tới choáng ngợp rồi.
Rồi anh Quyến qua ở với tôi, khi anh Quyến từ Anlog sang anh có mang theo một viên đá quý to đùng anh nhặt được trong Tabon, tôi lẩy bẩy lái chiếc bán tỏi chở anh ra Banse bán viên đá đó được một số tiền lớn không ngờ, tôi nghĩ nó phải cỡ vài chục triệu bây giờ chứ không ít đâu, đó là còn bị các tay mua “phỉnh” ép giá thấp rồi đó, rồi mua mỗi anh em một bộ quần áo Jean “kinh dô” rồi cả kính đen nữa mua bia và thuốc lá, kem đánh răng, dầu đỏ, xà phòng thơm vv.., hai anh em hân hoan sung sướng lắm, nói thật là đời tôi tới lúc đó chưa bao giờ dám mơ tới bộ đồ đó chứ đừng nói tới có mà mặc, cũng thích lắm nhưng khi thấy nó đắt quá tôi tần ngần không dám mua, anh Quyến thì khác.., anh gạt tôi ra rồi bảo, đời anh em mình nay sống mai chết có tiền thì mua đồ đẹp chứ tiếc đéo gì, anh tự chọn đồ xong tính tiền, rồi anh bảo mua thêm đôi dép Lào, loại ta hay gọi là tông lì đó, nhưng tôi không thích đôi dép đó, tôi chỉ đi giày lính cao cổ quen rồi, hai anh em còn ghé ăn hủ tíu rồi uống cà phê sữa đá hẳn hoi rồi mới về, tôi mặc ngay bộ đồ mới, anh Quyến gật gù bảo mày to cao mặc đồ này đẹp đấy, mặc cả “cây” lại còn mang giày cao cổ đầu thì sốt rét rụng sạch tóc còn vài sợi nhôm nham như quả dừa khô bị lột vỏ, nhìn tôi gọi là ngầu như bồn cầu luôn, anh Quyến thì mang đôi dép Lào đỏ choé, hai anh em khụng khiệng bụng no căng, say lướt khướt leo lên xe hơi đeo kính đen đi về chả nhìn rõ đường nữa.
Sau thì anh Vat trong bãi gỗ ra cùng với anh Tai Sêm.
Ở với các anh đó quả là niềm may mắn cho tôi, mỗi người đều là một người Thầy đúng nghĩa của tôi, suy cho cùng thì ai ở quanh ta cũng đều là một người Thầy, ít ra là trong một lĩnh vực gì đó, một phương diện hay góc độ nào đó thì phải, có điều là ta có muốn học hỏi hay không thôi.
Anh Quyến thì vui tính và hài hước, suốt ngày anh hát hò, pha trò, rồi xuyên tạc bài hát, tôi nhớ mãi anh hay hát bài Hát mừng các cụ dân quân anh xuyên tạc lời thành, hôm qua có trận mưa to các cụ già cởi truồng đi bắt cá rô, sóng xô vào mông các cụ già rụng hết cả lông..máy bay nó rú đằng đông các cụ già lại bắn đằng tây..ớ ơ trên luống cày các cụ già bắn rơi máy bay hết xăng..
Cứ buổi chiều khi nấu cơm là anh lại lại lấy cái nồi lật úp gõ vào đáy nồi và hát nghêu ngao một lúc..huân chương không thích đâu các cụ bảo rằng thịt trâu dễ chia.. rồi mới đi vo gạo nấu cơm.
Anh Vat thì giỏi miễn bàn rồi, với không riêng tôi thì anh là một “bậc Thầy” đúng nghĩa, tinh tế sắc sảo nhưng ít nói, nhận định và đánh giá mọi tình huống như thần, gọi như bây giờ là chỉ thua ông Gia Cát Lượng mỗi cái quạt thôi, tôi từng có viết một bài sơ qua kể về anh rồi.
Anh Tai thì lại khác hai anh kia một chút, anh Tai Sêm thì lần đó là lần đầu tiên tôi gặp anh, tôi ấn tượng ngay lần đầu khi thấy anh, anh cao hơn mét 8, da đen cháy và người ngợm mặt mũi chi chít sẹo, anh xăm mình rất nhiều, anh xăm cả trên đầu xuống toàn thân, toàn những dòng chữ ngoằn ngoèo và hình thù kỳ lạ, sau tôi hỏi anh mới biết đó là những “bùa phép” gì đó.
Tướng anh Tai to cao, cơ bắp cuồn cuộn gương mặt dữ dằn cặp mắt luôn như sáng quắc, thân thủ mau lẹ ghê gớm và “nghệ” thì khỏi phải nói rồi, gọi là cả vườn luôn, anh học cả Muay cả Kun cả boxing, rồi Karate..nhiều lắm.
Anh Tai thì là “đệ ruột” của anh Vát, anh Tai là dân giang hồ thứ dữ chứ không phải thứ thiệt nữa, sau tôi nghe anh Vat nói anh Tai từng là dân chém mướn, nhưng người ta chém mướn ở ngoài đời còn anh Tai thì chém mướn ở trong tù.
Nhà tù ở Thái Lan ngày đó thì toàn băng đảng và ghê gớm lắm, anh Tai thì dạng độc cô cầu bại, muốn thanh toán nhau mà không bị ảnh hưởng gì thì họ bỏ tiền, vàng ra mướn anh Tai, anh Tai luôn có hai đệ tử ruột bên cạnh, nhưng khi động thủ thì anh toàn tự tay làm chứ không cho em út làm, khi làm xong “hợp đồng” thì anh ung dung ôm mền vào phòng cùm kỷ luật, hai đệ tử ở ngoài lo “tắc tế”, anh “số má” tới nỗi các cảnh sát coi ngục còn phải kiêng nể, nghe nói anh từng giúp ma đam Lui rất nhiều và được ma đam Lui tuy là dân “bê đê” nhưng “gấu nguyên con” rất nể trọng một điều Chan Tai, hai điều chan Tai (anh Tài) và xưng em rất kính cẩn, lễ phép lắm, còn đối với anh Vát thì madam Lui còn nể sợ hơn nữa vì anh Tai còn gọi anh Vát là Thầy, tôi nghe nói anh Tai vào trong rừng ẩn dật vì đã gây chuyện gì đó rất lớn bên ngoài, cũng nhờ “số má” của anh Tai và anh Vat mà tôi có cả xe hơi lẫn hon đa đờ rim mà cưỡi tung tăng khắp nơi, cứ mỗi tuần ma đam Lui lại cho người mang rượu thịt vào tiếp tế cho anh Tai, chúng tôi tha hồ hưởng sái, nhiều lần ma đam Lui còn điều cả vài cô gái Thái rất đẹp vào uống rượu và múa hát, ăn uống xong thì họ lại về mà không ai ngủ lại đó, anh Tai lại không hút thuốc hay uống bia rượu hay gái gú gì cả.
Tôi nhiều lần lái xe chở anh Tai ra nhà bà chủ chị đại Na Oan thấy anh Tai vào nhà ngồi trà lá nói chuyện ngang hàng với bà chủ, và có vẻ bà chủ cũng rất nể trọng anh Tai, anh Tai rất quý tôi đi đâu cũng lôi theo nên bà chủ và bà ma đam Lui cũng chiếu cố cho tôi nhiều hơn, tôi được thơm lây hưởng ké “số má” của anh Tai.
Tôi lúc đó ít tuổi nhất là chân sai vặt điếu đóm cho các anh tì anh đại đó, các anh rất quý và thương ngày nào cũng chỉ dạy không nọ thì kia rất nhiều thứ, ngoài tôi và anh Quyến là người Việt ra, còn hai anh kia anh nào cũng sõi tiếng Việt nên việc giao tiếp không có trở ngại gì, anh Tai từng lăn lóc ở Sài Gòn từ ngày chưa giải phóng nên tiếng Việt của anh tốt lắm.
Sau có mấy anh người Trung cũng ở gần đó hay qua giao lưu, mấy anh này cũng làm cho một ông chủ người Hoa, họ có một nhóm chừng hơn 30 công nhân người bản địa chuyên đi thu hoạch mủ cây Trôm về làm yến giả, các “xì thẩu” người Tàu từ thời đó đã chơi chiêu này rồi, thỉnh thoảng tôi hay mò vào rừng cây trôm bẻ những trái to gần như cái chén ăn cơm, chín có màu hồng đỏ bóc ra lấy hột bên trong rang lên ăn cũng khá ngon.
Tôi lang thang nhiều nơi, ở cùng với rất nhiều “cây đa, cây đề” đủ mọi giới, nhưng phải nói thật là ở với hai anh, anh Vat và anh Tai tôi thật sự thấy ngỡ ngàng về nhiều điều mà với riêng tôi thì tôi thấy nó thật bí ẩn, tiện thì bon miệng kể ra đây cũng là bà con đọc cho vui thôi chứ không có ý tuyên truyền mê tín dị đoan đâu nhé, vì nói thật là tôi tin vào duy tâm nhưng rất ghét kiểu dị đoan mù quáng.
Đó là một trải nghiệm từ chính bản thân tôi.
Một lần tôi chở anh Quyến bằng chiếc xe honda lên đập nước xem anh Vat và anh Tai câu cá, lúc quay xuống thì tới khúc cua, bất chợt một chiếc xe tải thò ra, trời mới mưa xong đường trơn xe tôi thì đang xuống dốc, tôi vội đạp phanh, anh Quyến ngồi sau rất nhanh bay xuống túm lấy giá chở hàng phía sau xe lôi lại, do trơn nên chân phải tôi tuột khỏi bàn phanh cắm ngay xuống đường, may là tôi mang giày bốt, không bị xây xát nhưng có lẽ trật khớp hay bong gân gì đó, đau kinh khủng và cái chân tôi sưng lên rất nhanh chóng, tôi phải cởi ngay chiếc giày ra vì quá đau, anh Quyến lên xe chở tôi về, về tới nhà thì cái chân tôi sưng như cái chân voi, cơn đau khiến tôi nằm lăn lóc ôm chân bỏ cả cơm.
Anh Quyến vội vào rừng tìm lá thuốc hơ lửa cho nóng rồi bó cho tôi nhưng có vẻ không ăn thua, chân tôi càng lúc càng đau và sưng tướng lên.
May sao tới tầm chiều thì trời mưa nên anh Vat và anh Tai cùng tay đàn em anh Tai mới vào đi câu cá về sớm, thấy tôi nằm ôm chân lăn lộn nhăn nhó thì anh Tai hỏi em bị sao vậy, tôi vừa gạt mồ hôi vừa trình bày với anh, anh Tai nghe xong thì đủng đỉnh ra rửa tay chân rồi quay lại chỗ tôi sờ nắn cái chân tôi, rồi anh gọi tay đàn em lầm lì tên là Nong lại, bảo anh Nong múc một bát nước trắng bê tới trước mặt tôi để đó, rồi anh Nong ý tứ lui ra.
Anh Tai châm một cây hương nhỏ cắm lên ban thờ mà mỗi tối anh Tai và anh Vát hay đốt nhang, sau khi đứng chắp tay khấn chừng ba phút thì anh rút ba cây nhang nữa châm lửa đi ra chỗ tôi đang ngồi há mỏ nhìn mặt nhăn nhó, rồi anh Tai ngồi xuống xếp bằng trước mặt tôi gương mặt anh đỏ bầm trông rất sợ và lạ, anh im lặng lẩm nhẩm vài giây rồi bê bát nước lên ngậm một ngụm phun thẳng vào cái chân tôi đang sưng, anh phun ba lần và cầm ba cây nhang vẽ gì đó rất nhanh trong không khí rồi khua khua quanh chân tôi sau đó anh bảo tôi cầm ba cây nhang ngồi đó.
Tôi chỉ biết im lặng líu ríu làm theo rồi cứ ngồi im hai tay cầm ba cây nhang, anh Tai đặt một tay lên đầu tôi, anh bảo tôi nín thở ba nhịp, mỗi nhịp chừng năm giây đồng hồ, mỗi khi tôi nín thở anh Tai cũng nín thở và miệng như lẩm nhẩm gì đó, sau đó thì anh bảo tôi ngồi yên.
Tôi cứ ngồi yên vậy còn các anh ra ngồi bàn ăn cơm, tới khi ba cây nhang vừa cháy hết thì thật lạ là dù đang ăn cơm và không nhìn thấy cây nhang hết nhưng anh Tai và anh Vat vẫn gọi tôi đi rửa mặt và vào ăn cơm.
Tôi lật đật quên chiếc chân đau đứng lên đi rửa mặt, và tôi bỗng giật bắn mình vì cảm giác tê bì khiến tôi sực nhớ tới cái chân, nhưng lạ lùng vô cùng là nó đã gần như hết đau, thậm chí tôi còn có thể bước đi được, anh Nong bảo tôi uống ba miếng nước trong cái bát nước còn thừa đổ lên đầu, tôi làm theo y vậy, khi bước ra rửa mặt có một cảm giác thật lạ trong người đó là gần như tôi không còn thấy đau chân nữa, dù cơn đau chỉ chừng chục phút trước đó khiến tôi toát cả mồ hôi và lê lết không đi nổi, gần như tôi vừa được chích một mũi móoc phin liều cao vậy..
Tôi lật đật ra ngồi vào bàn ăn cơm mà không dám hỏi gì các anh, chỉ chắp tay trước các anh.
Rồi qua một đêm ngủ rất ngon mà không hề đau nhức, tới chiều ngày hôm sau thì cái chân của tôi dường như không còn đau gì nữa chỉ còn hơi sưng thôi.
Chuyện này nếu như là người khác kể lại thì có lẽ tôi không tin lắm phải trừ hao bớt, nhưng nó lại xảy ra với chính tôi khiến tôi rất hoang mang và lạ lùng, tuy nhiên thì tôi cũng chỉ im lặng không dám hỏi han gì nhiều các anh, và tôi vẫn luôn chờ có một dịp thuận tiện sẽ hỏi các anh xem các anh đã làm điều gì khiến cái chân của tôi lại không đau như vậy nữa.
Tới khá lâu sau đó thì tôi mới được nghe anh Vat nói, anh Tai đã dùng “huyền thuật” của người Pali và Khơmer cổ khi luyện môn võ Kun, một môn võ rất bạo lực của người Khơmer cổ xưa, tôi thấy nó còn tàn bạo hơn cả môn võ Muay của Thái.
Ngày đó người Thái luyện võ nhiều và võ đường mở nhan nhản, gần như các khu chợ hay có những khu hội chợ như ở ta và trong đó không thể thiếu những võ đài tự do cho các anh tài lên thi thố, có ban bệ đứng ra làm trọng tài và có cá cược ăn thua hẳn hoi chứ không phải chỉ lên để đấm nhau cho vui cho u đầu mẻ răng đâu, một hai lần anh Tai cũng ngứa ngáy tay chân nhảy lên võ đài xin thi đấu, nhưng chẳng có đối thủ nào dám bắt kèo với anh.
Tôi nghe anh Vat nói nhiều người luyện Muay cũng theo “Tổ”, khái niệm này tôi thấy na ná như những người luyện Thần Quyền vậy.
Thần Quyền thì là một môn phái bí ẩn đúng như tên gọi của môn đó, theo tôi là vậy, họ không tập luyện theo một bài bản nào, không có giáo trình cụ thể nào, người theo tập môn đó không để thi đấu hay biểu diễn mà dường như họ chỉ để “trợ thân” và chữa thương thôi thì phải, người theo phái đó có rất nhiều quy chế bắt buộc phải tuân thủ, nếu không giữ được “giới pháp” của Tổ thì sẽ phải chịu sự trừng phạt rất ghê gớm…những điều này thì tôi tự lần mò tìm hiểu và cũng chỉ biết nói sơ sơ vậy thôi, có bà con nào biết về hệ phái Thần Quyền xin chỉ giáo thêm ạ.
Rồi ngoài chữa thương thì các anh còn có nhiều “thuật” lạ nữa, tôi phải gọi đúng là như vậy, ví dụ như gặp chó dữ, con chó có dữ tới đâu đi nữa nhưng gặp các anh đó tôi thấy nó đều ngoan ngoãn một là nằm yên hai là cúp đuôi lủi mất mà không thể sủa được một tiếng nào, hoặc khi không còn mặt trời tức là buổi tối hay nhập nhoạng chứ không cần phải đêm muộn các anh có thể dễ dàng đi qua một nhóm người đang ngồi giữa đèn đóm sáng trưng và dường như những người đó không phát hiện ra các anh đang bình thản đi qua, điều này tôi cũng đã thấy tận mắt một lần.., và cách đuổi cho dữ tôi cũng từng thấy anh Quyến làm một lần khi ở Lào, tuy nhiên thì anh Quyến có nói “cách” anh làm lại không giống anh Vat và anh Tai làm, nói chung là bí ẩn và khó hiểu lắm bà con ạ.
Viết tới đây tôi lại nhớ tới một anh bạn đáng kính cũng trong trang tôi, anh hơn tôi một tuổi, có một lần anh hỏi tôi về cách chữa bệnh bằng “mẹo” dân gian cho chị vợ bị mất ngủ, thật tiếc là tôi lại không biết để chỉ cho anh, không biết có bạn nào có biết về mẹo chữa mất ngủ không, xin mách nước dưới cm dùm tôi ạ.
Nói tới mất ngủ thì tôi nhớ anh Vat từng chữa cho một sĩ quan của bạn, chẳng hiểu vì lý do gì hay quá căng thẳng thần kinh, hay stret hoặc tâm lý gì đó mà một sĩ quan bạn mất ngủ tới cả tháng trời, người gầy rộc bơ phờ mắt đỏ lòm và uống nước nhiều hơn ăn cơm vậy mà cũng chỉ bằng cách ngồi xếp bằng và anh Vát ngồi phía sau lưng, cũng xếp bằng và đốt nhang, cháy hết nhang thì anh sĩ quan kia bỗng đổ ngang miệng nói mê sảng người mềm nhũn mắt trợn trắng, mọi người phải khiêng lên giường và sau đó thì anh sĩ quan sập nguồn hơn hai ngày hai đêm như chêt rồi vậy, khi tỉnh dậy thì đòi ăn uống, ăn xong lại nằm ngủ tiếp và nói ngọng không thành tiếng rõ rệt nữa, phải cả tuần sau mới trở lại bình thường và nói lưu loát rồi dần khoẻ lại như ban đầu…
Chỉ kể lại những điều trên với mọi người thì tôi biết là nó rất khó tin, thậm chí tôi từng bị vài người chửi bới thậm tệ khi kể lại một mẩu chuyện của tôi chứng kiến về thuật cầm máu..
Nếu như tôi cũng chỉ nghe kể thì chắc có lẽ tôi cũng như bà con là không tin lắm đâu, nhưng thật may mắn là tôi đã thấy tận mắt nên thú thực là tôi đành phải tin vào những điều huyền bí kỳ lạ trên mặt đất, dưới gầm trời này, tôi vẫn nói rồi tôi chỉ thấy vậy và kể lại thôi chứ chẳng có đủ kiến thức và trình độ để có thể giải thích hay chứng minh nổi những điều bí ẩn đó bà con ạ.
Những ngày tháng ở Thái thì luôn là êm đềm, tuy cũng có mặt nguy hiểm nhưng ít đì đùng hơn bên Cam, chiều xong việc là tà tà lượn phố ngồi hóng các anh nhậu rượu bia, tôi thì đặc biệt không thích môn đó, sợ cảm giác say rượu, và quan trọng là tỉnh 100% còn khó sống, say nữa thì sao mà sống nổi.
Ngồi hóng các anh uống rượu và ngắm gái, gái Thái thì so với các cô gái Cam thì tạm gọi là bén hơn thôi chứ tôi thấy thua xa các cô gái Việt, rồi bê đê nữa bà con ạ, bê đê từ ngày đó đã nhiều rồi, tướng tá thì một đằng hệ điều hành lại một nẻo, tôi từng bị một men phẩy kiểu vậy thích rồi săn đón cho tới khi tôi biết sự thật bẽ bàng.
Nhớ có lần ra chợ, tôi gặp một đám oánh lộn, buổi tối nên tôi quáng gà mắt nhắm mắt mở vào can hai ba “cô” đang vùi hoa dập liễu một “cô”, của đáng tội thấy “cô” bị vùi đó khá ok, tướng cao ráo nhìn cũng xinh xắn nên tôi vào ngay vai bát man người dơi người hùng can thiệp ngay, giải vây cho “cô” bị hội đồng xong thì hoá ra hai quán bán bia oánh nhau, sau khi làm người dơi giải cứu thì đưa “cô” đó về quán, tôi ấn tượng lắm khi cô cất giọng cảm ơn tôi, trời..người đã đẹp rồi giọng lại toàn âm bass làm tôi bị sét oánh, tấm chiếu mới, chai chưa mở nút biết gì đâu..tới lúc vỡ mộng thì từ người dơi thành rơi xuống giếng.
Vài bữa nghe anh Nong nói “cà thơi” đó mày tôi mới ngớ người ra kinh hãi, vỡ mộng, thật là một nỗi buồn sâu sắc lắm..
Êm ấm được thời gian thì tôi bắt đầu làm áp tải hàng rồi tài xế đường dài theo đoàn xe, chở đủ mọi thứ nhu yếu phẩm gạo thóc thuốc men, quần áo..vv từ Thái qua Cam, rồi lại gom nhựa thông, hạt điều, cà phê trái cây..vv, về thái, tôi với anh Quyến đầu bên Thái, anh Ba và thằng Bánh tiêu đầu bên Cam, thỉnh thoảng anh Quyến theo xe sang Cam thì Bánh tiêu lại qua thay anh Quyến cùng tôi.
Đi với Bánh tiêu thì vui hơn anh Quyến vì tính nó nhí nhố, lạ là nó rất khéo tay và nhanh ý thông minh, nhưng chữ xấu kinh khủng khiếp, nó hay ngồi viết thư về cho cô bạn gái thanh niên xung phong ở Trảng Bàng mà nhìn lá thư của nó tôi tưởng lá bùa, phục cô bạn gái nó dịch được chứ tôi nát cả óc ko dịch nổi, đã thế còn hay viết thư.
Nhớ mãi có lần tôi đưa anh T. về Nông Pênh để về Việt Nam công việc, chị chủ nhà chỗ bọn tôi ở nhờ ở Nông Pênh là vợ một anh cán bộ bên bạn, tôi quên tên chị rồi, anh chị có thằng con nhỏ bị đi kiết lỵ, thời điểm đó có một thời gian kiết lỵ bùng lên suýt thành dịch bên họ do thuốc men thiếu thốn, anh T bảo tôi chữa cho thằng bé, tôi mua ba quả trứng vịt luộc lên cho nó chấm với đường cát ăn, ăn xong uống miếng nước luộc trứng rồi nó hết bệnh nhưng chị vợ cứ năn nỉ tôi chữa tiếp, tôi nói vậy là xong rồi chị, chị cứ nằng nặc bảo tôi “sên” thêm.., tôi đang ngơ ngác thì anh T vỗ trán, à…rồi ok, anh T thì thầm vào tai tôi chị tưởng mày chữa bằng “bùa chú” đấy, thôi đã trót thì trét luôn, anh T móc đại mấy lá thư thằng Bánh tiêu gửi ra, lấy ra một lá, dúi cho tôi, thấy chữ ngoằn ngoèo như bùa nên chị kia yên tâm, tôi đốt luôn lá thư rồi hươ hươ nhặng lên miệng cũng vờ lẩm nhẩm gì đó xong bảo chị rồi xong rồi đấy, thấy vậy chị ấy mới yên tâm, vừa làm tôi vừa phải cố nghiến răng lại mặt thật trầm trọng mới không phì cười.
Lúc ở Sisophon thì tháng một lần phải viết báo cáo chi tiết công việc chăn trâu bò, săn bắt hái lượm..lên nộp chú Tư, lúc đó chú Tư ở Xiemriep, lần nào cũng như lần nào lên là chú giữ lại ăn cơm nói chuyện tới tận hôm sau, kiểu gì trong bữa cơm chú Tư cũng cười cười lắc đầu vỗ vai thằng Bánh tiêu bảo, hay thôi ấy sau báo cáo miệng đại đại đi, đừng viết nữa.. chứ ấy viết tao đọc không có nổi, chúng tôi phải cười bò ra với nhau.
Tôi với Bánh tiêu cũng nhiều kỷ niệm với nhau, chêt hụt với nhau một lần, cái sẹo ở trên trán tôi là kỷ niệm với nó ở Biển Hồ.
Lúc đó tôi nhớ thời điểm đầu mùa mưa, nhìn bông điên điển nở vàng rực rất nhiều và sớm là biết mùa mưa năm đó ít mưa, chúng tôi đêm hay mò ra đăng chắn cá bỏ không của dân vì ở Cam có luật từ xưa là ba tháng hoặc 6 tháng mùa mưa là cấm bắt cá do lúc đó cá mang trứng nhiều chờ mưa xuống là tìm chỗ đẻ nên họ cấm bắt.
Lúc đó chúng tôi ở ngã ba Rom đun, đoạn từ Krako xuống Bari sang Kampongchunang, cái ngã ba đó chưa tới lối rẽ qua Pursat, từ ngoài ngã ba vào tới Biển Hồ chừng hơn chục cây đường đất đỏ toàn ổ trâu ổ voi, có đoạn còn hai con đường song song vì đường chính nhiều mìn quá và xấu ít người dám đi.
Gần hồ là kênh rạch chằng chịt có một phum nổi gì đó mà tôi quên mất tên rồi, xưa rất nhiều người gốc Việt làm nghề sông nước ở đó.
Mùa cá linh thì ở Biển Hồ luôn sớm hơn ở ta có lẽ do thời tiết khí hậu gì đó, đêm anh em tôi hay mò ra hớt về ăn, lấy cái lưới rách buộc lại như cái te chỉ đẩy hai ba cái là nửa chậu cá ngay về ăn vài bữa mới hết, bữa đó mưa nhỏ xong vừa tạnh trời có trăng sáng tôi và Bánh tiêu đi bộ từ trong phum nổi ra ngã ba Rôm đun, ngoài lộ 5, đoạn đường cả đi cả về hơn bốn chục cây đường đất lầy lội toàn mìn, hôm nào khô ráo còn đỡ, còn mưa thì chúng tôi phải đi bộ từ 7-8 giờ tối đi hết đêm đến sáng mới quay về lại được, xung quanh đồng ruộng hoang vu không một bóng người nhiều đoạn rừng thưa, tầm quan sát thì tốt nhưng cũng rất nguy hiểm, ở rừng rậm còn có vật che chắn chứ nơi đó như cái bia tập bắn cắm giữa ruộng vậy.
Hôm đó đi làm sao cả hai anh em linh cảm đều tốt, trời vừa mưa xong nhưng không gian im ắng tĩnh mịch lạ thường, đến ếch nhái cũng kêu ít, tôi nhớ rõ là không gian im ắng tới căng thẳng, cái cảm giác đó như một sự đe doạ đầy nguy hiểm nào đó mà rất nhiều lần tôi gặp, hai anh em im lặng căng mắt căng tai căng mũi ra mà đi, mỗi thằng đi cách nhau chừng chục mét, vừa chui ra khỏi những lùm bụi ngập nước tới bãi trảng thưa thì đụng lính Pot.
Phải nói là số chúng tôi rất may hôm đó, chèo cái thuyền từ ngoài hồ vào thì cái thuyền thủng, thằng chèo thằng tát nước, cái thuyền cũ nát nước vào nhiều quá hai anh em phải nhảy xuống bơi cạnh đẩy thuyền, rồi luồn rừng đi ra thật may là hôm đó mà đi nhanh chỉ chục phút đồng hồ thôi thì chắc tôi xanh cỏ rồi.
Tôi đi trước vác cái giỏ cá không, Bánh tiêu đi phía sau đột nhiên tôi thấy vài con cò vạc vỗ cánh bay vụt lên rồi nghe Bánh tiêu huýt một tiếng, tôi vừa ngồi thụp xuống chưa kịp quan sát gì thì đã thấy tiếng trung liên đạn đỏ lừ bay ràn rạt xung quanh.
Tôi vội móc trái M67 ném về phía đó và gào lên ; Teng a put tơ mut..(tất cả tiến lên) và móc sung ngắn băn một hai phát xuống đất, không dám bắn về phía chúng vì sợ lộ.
Bánh tiêu phía sau cũng hiểu ý ngay nên gào theo ; tap khơ nhum teng a khơ nia..( tất cả nghe lệnh tôi) phải giả làm bộ đội Cam như vậy cho chúng tưởng bên kia đông lắm, kỳ thực là có hai mống phất phơ, chúng tôi không dám nổ sung nữa vì sợ lộ, hai anh vừa móc lựu đan ném vừa bò thật nhanh lại phía lùm bụi phía sau lưng.
Bò ngược lại tôi vẫn thấy Bánh tiêu nằm đó tưởng nó bị dính tôi hỏi nó mày bị dính à, nó nói không em chờ anh, tôi bảo nó bò nhanh đi chờ gì anh nữa nó biết có ít người là toi bây giờ, hai anh em mỗi người quăng một hai trái nữa rồi rút vào những bụi cây, thật may là có một cái gò mối rất to và cao lù lù như cái nhà sàn thấp, hai anh em vòng qua sau gò mối nấp, tôi nhổm lên quan sát phía trên gò mối, chúng có chừng 5-6 tên, một tên đã bò tới rất gần chúng tôi, tôi vội bảo Bánh tiêu có thằng bên phải chỗ mấy cái cây nhỏ ấy, nó nói em thấy rồi, tôi nghe nó nổ hai phát tên đang bò lăn ra giãy như con cá lên cạn, tôi bảo Bánh tiêu chạy đi lộ rồi…chưa kịp nói hết câu thì nghe rầm, chớp sáng nhoá lên tôi nghe một tiếng cốc ở trên trán, hai anh em khom lưng bung chạy, tôi dừng lại băn cản rồi nó phía sau lại băn cản cho tôi bò..rút vào phía rậm hơn thì chúng không đuổi theo nữa.
Chúng tôi không quay lại hướng phum mà chạy ngang sang qua đầm nước nhỏ sang phía rừng ngập nước tìm ổ ém lại nằm chờ trời sáng chịu muỗi cắn.
Lúc bây giờ tôi mới vuốt tay lên mặt, máu từ trán chảy xuống như mồ hôi, một mảnh AT to hơn đầu đũa đã cắm vào trán tôi, Bánh tiêu bị nặng hơn tôi, nó bị bốn mảnh găm vào tay phải và chân phải, phúc tổ cho chúng tôi là chúng bắn AT chứ chúng có B41 thì chúng tôi nát bươm rồi.
Sau đó tôi và nó còn một kỷ niệm nữa nhưng ở Việt Nam, một kỷ niệm mà phải nói rằng mỗi khi nhớ lại cảm giác buồn vẫn cứ như còn nguyên..
Đó là năm 89, khi về nước công việc, chúng tôi ở đường Nguyễn Trãi, thời điểm đó tôi nhớ gần tết, chiều muộn xâm xẩm hai anh em hay thơ thẩn lang thang đi bộ lòng vòng quanh khu vực chợ Bến Thành, ban ngày thì cũng ngại ra đường chúng tôi thì đen đúa bẩn thỉu, quần áo bạc phếch vá víu quê mùa..
Tôi nhớ bữa đó thứ bảy, anh N mời chúng tôi qua ăn cơm ở bên Khánh Hội, lúc đi thì anh em vẫy xích lô đi, lúc về thì đi bộ vừa đi vừa ngắm cảnh phố phường rồi vòng qua cầu Canmette rồi qua Ký Con lòng vòng qua Cô Giang thì muộn lắm rồi nhưng ở mấy con phố đó vẫn nhộn nhịp người xe lắm, đang đi thì mệt quá thấy cái quán cà phê đông đông ngay đầu một con hẻm, tôi còn nhớ nơi đó dù nó đã thay đổi nhiều lắm rồi.
Hai anh em rẽ vào quán cà phê, đèn tối hù chỉ có những bóng đèn xanh đỏ nhỏ nhỏ loại đèn có cái chụp nhựa tua tủa như trái sầu riêng nhấp nha nhấp nháy rồi có cả tiếng catxett nhạc Trịnh Công Sơn sơn ca 7 gì đó..
Tưởng quán vắng vì thấy tối ai dè trong quá trời khách và hình như toàn “dân chơi”.
Hai anh em ngồi ở ngoài cửa, ăn mặc lôi thôi quê mùa, Bánh tiêu còn ôm một chiếc túi anh N cho mỗi anh em một bộ đồ đựng trong đó.
Dù trời tối nhưng tôi vẫn có cảm giác có rất nhiều con mắt đang nhìn chúng tôi, ngồi uống ly cà phê hút mấy điếu thuốc thơm Kỳ hoà xong anh em lếch thếch về, lại vòng tiếp qua Cô Bắc tính ra cắt qua Trần Hưng Đạo để về thì vừa qua khu chợ Cầu Muối tới đúng con hẻm gì mà vào có trường học bây giờ đó, tới đúng đầu hẻm thì tôi thấy có hai ba thằng nhóc cỡ chừng 15-16 tuổi ở trần bận quần tà lỏn, một thằng hất hàm vẫy tay gọi chúng tôi lại gần và nói ê mấy ông vô trỏng có người gặp, rồi nó quay lưng bỏ đi ngậm điếu thuốc lá phì phèo.
Tôi thấy lạ vì có quen biết gì ai ở khu này đâu, tính định bước đi thì chợt giật mình, một thanh niên cởi trần đội nón lưỡi trai quay qua ngoắc tôi, hai anh em quay vào ngõ, có cỡ chừng gần chục thanh niên đứng ngồi ở đó có cả những chiếc xe honda dựng chống, một thanh niên lúc đó cũng chỉ tầm cỡ hơn tôi một hai tuổi, tóc dài cổ đeo dây bạc có răng heo, quần sóoc jean cởi trần xăm trổ loang lổ, anh ta cất giọng hỏi tôi hai chú em tìm ai vậy, tôi nói tôi không tìm ai chỉ đi ngang qua đây thôi, một anh cũng cởi trần ngồi dưới đất chạc tuổi anh kia hỏi anh em tôi, các ông bắc kỳ à, định bay à?
Tôi ngớ người ra chả hiểu anh đó hỏi ý gì nữa.
Sau này mới biết họ hỏi bọn tôi định tìm mối vượt biên phải không.
Tôi chỉ lắc đầu không nói gì định quay ra thì nghe Bánh tiêu kêu ớ một tiếng, tôi quay nhìn thì đã thấy một thằng nhóc choai choai giật cái túi Bánh tiêu đang ôm, rồi một thằng nữa len vào đẩy Bánh tiêu ra cho tên choai choai kia mở túi lục lọi, tên choai choai mở túi lục rất kỹ sờ nắn khắp nơi rồi nó nói gì đó với anh ngôi khoanh chân dưới đất.
Vài người khác đứng dậy tiến đến gần tôi một người nói Đ má tụi mày đâu tới đây vậy?
Miệng nói tay tên này định chụp lấy cái đồng hồ tôi đang đeo.
Tới lúc đó thì tôi mới hiểu ra vấn đề, họ định “trấn lột” đồ của hai anh em tôi.
Một cảm giác bùng lên trong tôi, nó không phải là giận dữ mà nó giống như sự tủi nhục, tự nhiên tôi muốn khóc và nước mắt cứ trực như muốn trào ra, cảm giác đó giống như kiểu đứa trẻ bị oan ức gì đó muốn khóc vậy..
Tôi cúi xuống nhìn anh ngồi khoanh chân dưới đất, anh này gầy nhẳng ốm nhom nhưng xăm rất nhiều, cái hình xăm mà tôi nhớ nhất là vì có ánh sáng chiếu vào là chân anh ta xăm hai con gì như con rết dọc hai cái ống chân khẳng khiu, gương mặt dữ dằn, tóc dài, xung quanh có vài ba tên cỡ tuổi tôi ngồi cạnh.
Thấy tôi nhìn anh này trừng trừng thì hai ba người đó đứng dậy, tôi đưa tay mở cúc áo ngực lộ ra cây hàng thửa tôi đeo ở nách, tôi thấy tất cả gần như đều sững sờ hết có kẻ đang định đứng lên lại ngồi xuống..
Lúc đó phải cố gắng lắm nhưng giọng tôi vẫn nghẹn lại tôi nói với anh ngồi dưới đất vì trông anh ta có vẻ đại ca đại cốc nhất; bọn em bắc kỳ, là lính chiến mới từ Cam Thái về tiền vàng thì không có chỉ có cái này thôi các anh có lấy không, 21 viên thừa cho các anh ở đây..
Anh này tái mặt dù trong bóng tối nhưng tôi vẫn biết thái độ lúng túng tay chân có vẻ run định dợm đứng dậy, tôi nói nhẹ nhàng; anh ngồi đó đi.., một vài tên choai choai xung quanh vội nhảy xuống từ yên xe honda hoặc đứng lên vùng chạy..anh đeo răng heo vội tiến ra nói; hông hông có gì đâu tụi tui đâu có ý gì..tôi quay ra chỉ mặt anh ta nói mày im, biết anh ta hơn tuổi mình nhưng trông vẻ mặt láu cá láu tôm dễ ghét của anh ta nên tôi bực.
Lúc này tôi nghe thấy bụp bụp bụp liên tục, hoá ra Bánh tiêu cũng đã móc hàng ra cầm tay và đang sút pê nan ty tên choai choai vừa giật và khám cái túi của nó, tôi bảo Bánh tiêu thôi em, không đánh nó nữa.
Rồi tôi bảo anh chân xăm con rết bọn em bên kia đổ cả máu mất cả mạng để cho các anh được sống thế này sao?
Anh ta ấp úng rồi nói mấy anh hiểu lầm thôi tụi tui có làm gì mấy anh đâu…, tôi nói; làm á? Anh nghĩ có kịp không? Hôm nay các anh hên gặp tôi chứ gặp anh em tôi thì xin lỗi cuộc đời luôn rồi, cầm lấy làm kỷ niệm nè, vừa nói tôi vừa giật quy lát cho văng ra 4 viên đạn rồi hai anh em lặng lẽ lê bước đi tiếp mặc cho bọn họ có vẻ muốn xin lỗi nữa.
Câu chuyện này qua lâu rồi, nhưng nghĩ lại tới tận giờ tôi vẫn nhớ cái cảm giác như muốn khóc lúc đó, thay vì giận dữ thì không hiểu sao tôi lại thấy tủi thân và muốn khóc..
Tôi còn nhớ như in đám choai choai gọi nhau là Cu đĩ và Lùn..chắc biệt danh của tên tiểu yêu nào đó, nếu hôm nay anh Cu đĩ hay anh Lùn có vô tình đọc được bài này của tôi thì cùng nhớ lại kỷ niệm xưa nhé, các anh có khi quên rồi nhưng riêng tôi thì nhớ lắm.