Những Câu Chuyện Kỳ Bí Của “Người Kể Chuyện”

CHUYỆN 136:

 

NGÀY MƯA GIÓ, CHUYỆN LAI RAI NHỚ GÌ KỂ ĐÓ…

 

Kính chào bà con ạ.

Lâu quá rồi tôi bận bịu công việc chẳng hầu bà con được hôm nay được nghỉ ngơi chút, có thời gian ngồi nhấm nháp ly cà phê nhìn mưa phùn rơi lại lan man nhớ về những ngày tháng xưa cũ..

Chẳng hiểu sao cứ nhìn mưa phùn rơi những ngày mùa đông là tôi lại nhớ những ngày xa xưa ở Lào, ở Cam..trong làn mưa lạnh quá khứ cứ như một cuốn phim quay chậm từ từ hiện ra.

Những ngày mưa phùn rét mướt lại nhớ thời gian ở Anlong Veng, quá khứ nơi đó thì chả có gì là thơ mộng hoặc huy hoàng, đao to búa lớn hay đội đá vá trời gì đâu, chỉ là nỗi khó khăn rất đơn giản mang tên là đói và khổ, thế thôi bà con ạ.

Khi chú Bảy điều tôi vào cùng anh Lai Som trong ngôi chùa đổ nát ở trong Anlong, dù chuẩn bị sẵn tư tưởng là sẽ khó khăn nhiều thứ thế nhưng khi vào tới nơi thì quả thực tôi vẫn không khỏi hoang mang về thực tại khi nhìn bằng mắt..

 

Một ngôi chùa đổ nát xác xơ giữa một vùng hoang lạnh âm u trơ trụi ba bề bốn bên không một bóng người, những thứ nhúc nhích và ngọ nguậy ở đó chỉ là những đàn quạ, chuột và dòi bọ cùng ruồi nhặng với những con chó hoang thoắt ẩn thoắt hiện nhưng những bóng ma.

Hôm đầu vào tôi chỉ có duy nhất một ruột tượng gạo chừng 7-8kg, hơn 1 ký muối trắng, một chai dầu gió đúng bằng ngón tay, bộ quần áo vàng của người tu hành đã ngả màu bạc phếch trắng và vá chằng vá đụp.

Khi tôi đưa số gạo và muối cho sư cả và ba sư bác cùng hai chú tiểu tất cả gầy trơ xương trong những bộ đồ rách nát, cặp mắt họ như sáng bừng lên khi thấy những hạt gạo tôi đổ ra..

Nhìn nơi đó lúc đó thực lòng tôi biết cuộc đời tôi từ trang khổ sở bước sang một trang mới là bi đát rồi.

 

Nhìn những nhà sư lúc đó tôi thầm cảm phục họ, điều kiện khó khăn vậy mà họ vẫn bám trụ ở đó tu hành…nhưng sau đó chừng hơn tháng thì niềm cảm phục đó cũng rơi rụng dần, họ đã không bằng những kẻ tu hú như chúng tôi, họ không chịu đựng nổi sự khổ sở khó khăn, đói khát và nguy hiểm, từng người một đã lặng lẽ rũ bỏ cà sa một đi không trở lại, họ đi đâu thì tôi không biết.. chỉ còn lại vị lục cả ( sư thầy trụ trì) chúng tôi gọi sư là sư Cả Om, gầy gò ốm yếu với một cánh tay thương tích gần như tật nguyền, sư cả nói đó là dấu vết khi sư bị lùa vào nông trường 31 lao động, khi gần kiệt sức sư đã bị một lính Pốt giơ cuốc bổ thẳng một nhát chí mạng may là lưỡi cuốc trượt khỏi đầu chỉ xả một đường dài từ bả vai xuống tận khuỷu tay trơ cả xương vì mất cả miếng thịt.., trong điều kiện tồi tệ lúc đó chẳng hiểu bằng một phép màu nào mà sư vẫn sống sót với một vết thương như vậy.

Ở đó thời điểm đó khó khăn chất chồng, chúng tôi gần như ở một hoang đảo, không có bất cứ sự trợ giúp nào từ đồng đội phía ngoài vì Anlong khi đó là vùng tử địa được sự canh phòng cẩn mật vì là nơi trú ẩn của những tên chóp bu trong chính quyền Khơmer đỏ, chúng ẩn ở những căn cứ phía trên lưng núi được canh gác bảo vệ rất nghiêm ngặt.

Lương thực gạo thóc không hề có, cả ngày chúng tôi phải đi rất xa ra phía ngoài chợ, chợ lúc đó là ở khu trường học Hunsen bây giờ, gọi là chợ nhưng nó chỉ là một bãi đất với lều quán tạm bợ lưa thưa dân ở, và may mắn lắm mới xin được chút cơm chay, khi thì chút cơm, khi thì vài mẩu sắn chẳng đủ cho một người ăn, tôi và anh Lai thường rẽ ngang rẽ dọc vào những rừng cây tìm nhặt trái cây rụng, chẳng có trái chín thì hái trái xanh.

 

Một lần tôi xin được mấy tên lính Pốt đang chở gạo và đỗ đen đi qua được một túi nhỏ đỗ đen, thấy những hạt đỗ còn tươi nên tôi và anh Lai đã không ăn mà đem trồng, quyết định đó thật là sáng suốt, vì nhờ cái ruộng đỗ mà chúng tôi đã có cái mà ăn, chẳng phải là ăn hạt đỗ mà là ăn lá đỗ, cứ có quả nào lại để già già rồi tách lấy hạt đem gieo, phải cắm cây kín hay đè những cục đá lên để chuột khỏi bới lên ăn, chuột ở đó thì khỏi phải nói rồi, to kinh khủng, ác cái là chắn được cái gốc cái thân thì lại bị chuột vàng leo lên cắn lá, lũ chuột vàng này tinh khôn như ma quỷ không tài nào mà bẫy được chúng, anh em chúng tôi chỉ biết đêm xuống ra ruộng đỗ nằm, vừa tránh bớt nguy hiểm vừa trông chuột bọ ban đêm.

Thời gian đó quả là kinh khủng với tôi, tôi đóng vai một nhà sư “cà lết” cà lết là chân đi cà thọt đó bà con, ngoài sự nguy hiểm từ lũ lính Pốt nhan nhản, rồi mìn bom, lộ tẩy..thêm đói khát thiếu ăn, muỗi mòng, bệnh tật..có thời điểm anh Lai đã phải bắt cả ốc sên nướng lên cho ra bớt nhớt và bỏ ruột lấy chỗ thân thịt để nấu cháo anh em ăn với nhau, gọi là cháo thôi chứ thực ra là ít cơm xin được, dọc đường đi thấy ruộng rẫy bỏ hoang thì xuống bới khoai mót sắn, chúng tôi không thể giỏi vụ đào bới như lũ chuột nên chỉ ăn xái của chúng, chỉ bới được đầu thừa đuôi thẹo khoai sắn lũ chuột ăn dở về nấu lẫn với nhau cùng lá đỗ thành một thứ đúng như nồi cám heo để ăn với nhau, có cái ăn như vậy là quý lắm rồi, có thời gian còn đói không có gì để ăn, chúng tôi phải liều mạng mò lên phía đầm nước to đi qua khu chợ mới bây giờ, năn nỉ lũ lính Pốt cho xuống đầm mò ít cua ốc hái ít rau dại mang về, gặp những tên lính còn chút tử tế chúng cũng nương tay cho mấy ông sư đói khát, nhiều lúc gặp những tên lính mặt sắt đen sì câng câng chúng không nói nửa lời mà thẳng chân đá chúng tôi như đá những quả bóng, cá biệt cũng có những tên lính đã chắp tay chào chúng tôi vẻ kính cẩn và lén dúi cho chúng tôi khi thì đùm cơm của chúng, khi thì hộp thịt thừa, lúc thì miếng lương khô ăn dở…

 

Thời điểm tôi ở đó đúng mùa khô khốc liệt, cây cỏ trơ trụi dưới cái nắng như lửa ban ngày, nghiệt ngã là qua mùa mưa thì đêm lại gió lạnh run cầm cập, có lần nhìn thấy ba nhà sư người thì cà lết người thì liệt tay, người thì dúm dó thảm hại, anh Lai gầy ốm lắm do anh bị dạ dày và đường ruột quanh năm ôm bụng đau nhăn nhó người lúc nào cũng lòm khòm như ông cụ lưng còng, một vài tên lính thương tình ném cho chúng tôi cuộn bao xác rắn với vài bánh lương khô, mỗi một cuộn bao xác rắn là 20 cái bao màu xanh còn mới tinh, chắc đồ viện trợ chúng đem vào làm bao cát đắp công sự, chúng tôi lấy dao cắt theo hình quần áo dỡ dây khâu đáy bao làm chỉ khâu lại nhìn như những bộ đồ mã của người âm và mặc vào cho khỏi mưa gió ban ngày lạnh rét ban đêm, đỡ muỗi nữa, vậy là tốt lắm rồi.

Đã đói cơm ăn còn thiếu cả rau xanh lẫn chất đạm..anh em tôi ngồi chế cái ná cao su, tôi chế chiếc ná như chiếc nỏ bắn dây móc của lính đặc nhiệm Nga, lấy một cây gỗ vuông buộc hai cánh ná chữ V phía đầu khi bắn kéo dây thun dài theo thân gỗ nên chính xác lắm, thỉnh thoảng anh em lén lút đi săn chim, sóc..có khi “móm” quá tôi hạ luôn cả quạ, nhắm mắt nhắm mũi chặt hai cái đùi và cái lườn về một người ngồi trám tượng, một người loay hoay nấu ở góc sân rồi san sẻ ra những mảnh hũ chum sành vỡ vì chỉ có đúng hai chiếc nồi nhỏ méo mó rúm ró đã không có vung một cái lại còn bị thủng nữa.

Do tượng bị lũ Pốt xưa bắn phá nên thủng rồi vỡ linh tinh tôi thì khéo tay mấy cái vớ vẩn nên rảnh rảnh thì lấy đất sét trám lại những pho tượng bị vỡ đó, nhiều lần lũ lính Pốt từ đâu xộc vào vây chúng tôi, thấy ba ông “sư” què quặt gầy gò đói khát đang trám tượng hoặc nấu nướng ăn uống dị mọ như thời tiền sử chúng chỉ đứng nhìn một lúc rồi quay ra, chúng tôi nhìn nhau nín thở mồ hôi rỏ tong tong tay chân run bần bật tưởng tới số rồi, lũ đó là lính tuyển nên tên nào cũng to khoẻ trang cấp đầy đủ toàn đồ viện trợ mới lắm, có vũ khí trong tay chưa chắc anh em tôi đã chống chọi nổi chúng huống hồ tay không, dù tôi luôn xác định là 9 phần toi chỉ có một phần sống thôi mà lúc chúng bất ngờ xộc vào vây quanh toàn thân tôi vẫn ớn lạnh chỉ biết nhắm mắt thở dài..may mắn là Trời Phật che trở nên thoát trong gang tấc, nhiều lần như vậy tới nỗi sau chúng tôi ban ngày cũng không dám ở chùa ngoài nữa.

Chúng tôi để Lục cả Om ở ngoài chùa, vì lục cả cũng sợ không muốn vào phía trong chùa ở, nơi đó thì là nơi hoả táng từ ngày xưa lúc đó thì hậu thời Khmer đỏ mọi lề lối xưa gần như đã bị phá bỏ, ở đâu có người chêt là người dân kéo ra bãi đất nào đó hoang gần bờ sông hay suối và xa xa nơi ở chút cứ thế chất củi là thiêu luôn cái gì chưa cháy hết thì hốt bỏ xuống sông, vơ đại đại tý tro gọi là cho có bỏ vào hũ đem vào ngôi chùa nào đó ở gần để là xong.

Theo đúng luật lệ của họ thì phải đem vào chùa có khu thiêu riêng, thiêu xong mang cốt lên chùa cái gì cháy chưa hết thì xúc đổ xuống sông suối nếu có sông suối gần chùa, không thì đầm nước, hồ nước ở chùa, tôi từng vào nhiều ngôi chùa bên xứ đó, chùa nào có lò thiêu rất hay có hồ nước gần bãi thiêu nếu như không có sông suối chảy qua, hồ nước chẳng phải là cho phong cảnh nên thơ trữ tình đâu bà con ạ, là nơi họ hốt cốt chưa cháy hết bỏ xuống đó.

Phía sau chỗ bãi thiêu chúng tôi ở cũng có cái hồ, lâu chẳng có ai chăm nom vì thời Khmer đỏ chúng lùa hết sư sãi khỏi chùa và phá chùa nên gần như ngôi chùa nào cũng sứt sẹo hoặc đổ nát tiêu điều, thậm chí có nơi chúng còn lấy chùa triền làm nhà tù nhốt và tra tấn hay giêt người trong đó, nên cái hồ nước nhìn như cái đầm hoang cỏ cây rậm rịt xung quanh.

 

Cái bãi thiêu chỗ tôi ở khá rộng, có hai cái lò thiêu vẫn còn dấu tích, lò của họ thì không có mái vòm như người Khmer bên ta mà chỉ là những viên đá ong quây quây lại chất củi phía dưới bỏ xac bên trên củi, không có áo quan như người Lào hay người Thái, đốt bằng củi nên xương to chẳng thể cháy hết, có chi tiết giống người Ấn Độ là tập trung đốt cái đầu khi cái đầu cháy như than thì họ lấy cây đập cho nó vỡ kêu ộp một cái mọi thứ bắn văng ra kêu xèo xèo.., còn xac thì lấy cuốc phạt phạt lên cho lóc ra cháy cho nhanh, nói chung là nhìn kinh khủng lắm.

Ngoài lò chính ra thì xa hơn còn một lò phụ nữa, tôi nghe nói nơi đó là để thiêu những người chêt bất thường, kiểu bị giêt, tai nạn hoặc bệnh tật đặc biệt gì đó hay là tư vẫn…riêng con nít thì hình như không thiêu mà chôn hoặc người trôi sông cũng vậy, một là để quạ rỉa còn có vớt lên cũng chôn qua quýt và bỏ hoang luôn chẳng mấy ai dám lại gần những nơi đó..

Cái đầm nước phía sau cách chùa chính vài trăm mét đó thì rất nhiều cá nhưng phải nói thật là khi đó đói tới nỗi chúng tôi đã phải ăn tất cả những gì ăn được từ rau dại tới chim chóc hay dế mèn, cào cào ốc sên thậm chí là cả quạ..nhưng những con cua ốc hay cá ở cái đầm đó thì cả hai anh em không ai dám ăn dù cua cá ốc ếch rất nhiều và to, mùa cạn nước ít trơ ra xương xẩu đầu lâu chân tay rồi những mẩu đen thui cháy dở như than.., gọi là như lá rừng bên dưới, nước uống chúng tôi cũng phải lọ mọ đi nơi khác đội về, cách xa cả vài cây số, qua mấy cái đầm nước thật xa tắm xong đội nước về chả biết cái đầm đó có gì bên dưới không nhưng khuất mắt nên cũng nhắm mắt nhắm mũi uống với tắm thôi.

 

Cạnh cái đầm nước chỗ anh em tôi đêm ra ẩn náu thì có một con đường đất nhỏ phía bên kia là cánh đồng bỏ hoang lau sậy cỏ lác um tùm, chả ai nói thì bọn tôi cũng đoán nơi đó xưa chắc chắn là nơi chôn những xac kiểu không được thiêu, anh em tôi ra phát quang rồi gieo đỗ đen mang tiếng là trồng đỗ nhưng nào có mấy khi được ăn quả nào chỉ được ăn lá thôi, ăn tới độ bây giờ mỗi khi nhìn thấy cây đỗ tôi lại thấy ớn ớn nhớ cái mùi vị của nó lại rùng mình, ngày đó có lá đó ăn là tốt lắm rồi, hái bỏ vào cái nồi rúm ró nấu như cám heo có muối ăn còn đỡ, không có muối nó khó nuốt lắm, lá đỗ thì non hay già cũng cứng và khô, có lần hết lá đỗ không có rau hai anh em liều hái lá và dọc cây khoai nước định nấu ăn thử, sát lên tay thì dọc mùng cũng ngứa nên phải nấu ăn thử coi sao, chọn mãi mới được vài ngọn ra hồn thái nhỏ nấu lên mùi nồng như cám heo xúc bỏ miệng nhai được mấy miếng thì mặt nóng bừng miệng tê dại vì ngứa tới nỗi phải móc đất khô tống đầy miệng, rồi không chịu nổi nữa thì tìm quả chanh dại chua nổi cả gai ốc bỏ cả quả chanh vào miệng nhai rồi ngậm cho đỡ ngứa..thật kinh khủng, cái miệng rát tê tới hai ngày.

Lần thì hái lá sắn nấu ăn xong bị ngộ độc suýt chêt cả hai anh em, thứ rau quý giá nhất lúc đó là những chiếc măng tre và chỉ mùa mưa mới có để ăn, tuy ngon nhưng ăn thay cơm thì xót ruột lắm bà con ạ.

Thời gian đó vừa mệt mỏi căng thẳng vừa đói khát khiến cả ba chúng tôi đều như kiệt quệ, anh Lai chỉ còn đúng như một bộ xương khô tôi và sư cả Om cũng vậy, đen đúa bẩn thỉu, người mốc cời như những con kỳ đà, đầy mụn ghẻ và vết muỗi đốt, muỗi ở đó rất độc nó chích xong gãi là thành những cái mụn đầu trắng li ti khi vỡ ra là thành ghẻ lở, chả có thuốc thang gì ngoài mấy quả chanh dại sát lên xót như cắt thịt, đêm nằm ngoài ruộng muốn không bị muỗi chích anh em tôi chỉ còn cách móc bùn lên trộn xong trét cho nhau kín người đầu thì trùm cái bao xác rắn chống muỗi, tới gần sáng bùn khô bong ra, bong chỗ nào muỗi lao vào chích chỗ đó muỗi độc chích đau nhói, sau có mấy cái bao xác rắn khoét mặc thì cũng đỡ chịu nóng chút ngủ cũng yên, rồi anh em tôi nghĩ cách đào hang chui vào nằm như chuột bên trong, cửa hang che kín bằng tấm khung cây căng những tấm bao, chỗ nào hở ra là phải bịt lại cho muỗi khỏi vào, chống được muỗi thì lại nỗi lo khác là rắn, cứ chỗ nào hang hốc khô ráo là rắn hay mò vào ngự, lại phải lấy thuốc đạn nghiền nhỏ ra rắc dưới nền đất chống rắn, ban ngày gặp chúng thì có đồ ăn nhưng ban đêm chỉ sợ ngủ say chúng tợp cho thì khốn, rồi cả kỳ đà, những con kỳ đà cứ đêm xuống là lục đục bò ra, kỳ đà ở đó rất to và nhiều nhưng cũng như cá cua dưới đầm nước thôi dù đói khát lắm anh em tôi cũng không dám xơi con đó, chẳng phải kiêng kỵ gì chỉ là biết chúng là những công nhân vệ sinh cần mẫn chuyên dọn xac lính Pốt…

 

Ngoài những nỗi khổ đó ra thì còn một nỗi khổ vô hình nữa là mùi thối, mùi thối kinh khủng khiếp nhất là khi giữa buổi trưa nắng, nó khiến cho tôi như ngạt thở có lúc quay cuồng như đang say thứ gì đó, ngửi cái mùi xac thối đó lâu dường như nó khiến cho khứu giác chúng tôi bị tê liệt, do thiếu chất rồi căng thẳng thần kinh cùng ngủ nghỉ không đủ anh em tôi rụng hết tóc, chả phải cạo đầu tuy nhiên thì bị rụng tóc thì nó khác với cạo đầu là vẫn còn những sợi tóc lưa thưa như xơ quả dừa, nhiều khi anh Lom ngồi loay hoay làm gì đó nhìn anh từ phía sau trông đúng như hình hài một con vượn chứ không phải con người nữa vì cả người anh toàn xương nhô hết ra cái đầu thì tóc lơ thơ sợi dài sợi ngắn trông thật ám ảnh, bản thân tôi cũng vậy, tôi đã sút tới hơn chục kg tóc cũng rụng hết, xương xẩu nhô hết ra gương mặt nhìn như một chiếc đầu sọ mắt luôn luôn bị hoa và thỉnh thoảng lại bị khó thở và chóng mặt, nhìn chúng tôi thảm hại tới mức khi thấy chúng tôi thất thểu đi qua những trạm gác bọn lính Pốt không cả buồn hỏi hay nhìn nữa chúng mặc kệ chúng tôi bẩn thỉu gầy gò hôi hám như ba cái xác ướp lang thang bê bình bát lê lết vào những khu vực cấm của chúng để khất thực xin ăn, thậm chí có lúc chúng còn cho chúng tôi ít cơm thừa của chúng, hay lương khô, nhiều khi đi bộ vài ba cây số mà anh em phải dừng lại ngồi nghỉ và thở mới có sức đi tiếp vì trời nắng nóng lại đói đi mất sức mệt ghê lắm.

Tới mùa mưa thì còn khổ hơn vì lạnh, thời tiết nơi đó thật ác nghiệt mùa nắng thì nóng nhưng mùa mưa thì đêm lạnh thấu xương nhưng mùa khô hay mùa mưa thì cơn ác mộng vẫn là muỗi.

Những cơn mưa rả rích mù mịt tưởng như bất tận, đất trời trắng hết một màu ảm đạm và thê lương, nơi chúng tôi ở lại càng thêm hoang vu lạnh lẽo, nhưng mùa mưa có cái may mắn là bên những khu ruộng hoang rất nhiều ếch, đêm đến hai anh em tôi lần mò đi soi ếch, ban ngày đi xin ăn nhặt nhạnh bịch nilon giẻ rách quần áo hoặc may mắn thì kiếm được cái vỏ lốp xe để dành đó mưa xuống làm đuốc đi soi vụt ếch.

Ếch nhiều tới nỗi chỉ cần đi một hai tiếng là bắt về cả nửa bao xác rắn, lúc mới có mưa thì bắt cả to cả nhỏ sau thì chỉ con to mới vụt, bẻ vài cây tre gai dài chừng mét rưỡi hai mét buộc lại như chùm roi thấy ếch là vụt, ếch nhiều tới nỗi nhìn chúng lúc nhúc ở những ruộng nước mà gai cả người, bắt về kho với lá lốt hoặc lá chanh, có ếch ăn thì lại khổ việc đi xin muối, bình thường muối đã thiếu rồi, nhưng nấu mấy con ếch hay cá mà không có muối thì khó nuốt lắm bà con ạ, bắt ếch đem ra chợ đổi muối rồi lại mang muối về nấu ếch để ăn, cũng may nhờ ếch mà chúng tôi hồi sức lại đỡ suy kiệt, nhưng lại bị ngứa, do ếch tanh nên ăn nhiều ghẻ lở như bùng phát lên nặng thêm rất khổ sở vì hở ra là ruồi bu rồi mưng mủ khắp nơi trên người, nhìn anh em tôi lúc đó như ngợm chứ không phải con người nữa có những vết sẹo vì ghẻ lở thâm đen mà cho tới tận bây giờ trên da tôi vẫn còn lờ mờ thấy.

 

Mùa mưa thì đêm xuống chỗ chúng tôi ở nhiều hôm như phố xá, lân tinh đủ màu xanh đỏ vàng bay khắp nơi lập lờ..như tôi có lần nói đó, cái thứ ánh sáng bí ẩn đó đôi khi tôi nghĩ nó không phải là chất phốt pho trong xương người hay động vật tự bốc cháy khi gặp không khí như cách giải thích từ khoa học, vì tôi đã nhìn thấy nó rất nhiều lần nó chỉ bùng lên rồi tắt ngúm rất nhanh chứ không bay lởn vởn theo người hoặc bay thành cục như trái bóng lơ lừng rất lâu như ở nhiều nơi tôi gặp.

Thời gian ở đó là tôi gặp nhiều nhất những thứ ánh sáng kỳ lạ này, phải gọi là quái dị mới đúng với thực tế, vì nhiều lần tôi gặp dạng dân gian gọi là ma trơi hay lân tinh gì đó ở rừng, nó chỉ bùng lên cháy rất nhanh trong chưa đầy một phút và ánh sáng có màu vàng giống ngọn lửa, còn ở nơi tôi ở đó thì khác, đủ mọi màu từ cam, đỏ lòm, xanh lét và lạ nhất là một màu xanh nhạt khó tả, có thể ví nó như một mảnh trời còn sót lại giữa màn đêm vậy..

Những thứ có màu khác thì bay lởn vởn cách xa con người nhưng riêng thứ màu xanh da trời đó thì lại bay vào sát chúng tôi, thậm chí có lúc nó như một chiếc mền bao trùm trên đầu chúng tôi, ban đầu thì tôi cũng bị giật mình sau đó thì thấy lạ nên tôi chú ý quan sát nó, thứ này nó lạ ở chỗ đôi khi tôi nghĩ nó như một thực thể sống chứ không phải là một ngọn lửa lân tinh bình thường.

Lân tinh bình thường thì cứ sau cơn mưa buổi chiều là đêm xuống rất hay thấy, nhưng thứ màu xanh kia lại khác, nó thường xuất hiện vào tầm 2-3 giờ sáng vào những đêm trăng sau khi trăng tròn, tức là tầm tầm gần cuối tháng, không biết từ đâu bất ngờ ngay sau lưng mình hoặc bùng một cái như ai đó vô hình mở bung một chiếc dù trước mặt ta, có lúc nó trải rộng như một đám mây nhỏ, có lúc nó lại như một cột lửa uốn éo, có lúc có hình dáng như một người đang làm những động tác kỳ dị, những loại lân tinh khác thì thường tôi thấy không có mùi gì kèm theo nhưng loại này tôi và vài anh em từng chứng kiến đều thấy là nó có mùi nồng nồng thum thủm và tanh tanh nữa, khá kinh là đôi lúc nó như vờn mình lúc nó ở khá xa như đang đứng im quan sát con người lúc nó tiến lại gần, có lúc như nhào lại doạ mình, có lúc tôi tiến lại thì nó lại lùi ra xa, có lúc nó bùng một cái ngay trên đầu, có lần anh em tôi bị giật mình tiện tay cầm cái roi vụt ếch tôi giơ lên vụt thẳng vào nó thì nó lại như uốn éo để tránh, nói chung là thứ quái đản đó tôi thấy nó không bình thường, chả biết nó là cái gì nữa chứ tôi thấy chắc chắn là nó không phải thứ phốt pho rồi.

Ở nơi đó ngoài những chuyện khổ sở ra thì anh em tôi gặp nhiều chuyện lạ lùng dị thường, kể lai rai cho bà con nghe chơi thôi vì nó lạ lùng lắm..

 

Đầu tiên là tiếng chuông chùa và tiếng mõ, một vài lần vào chập chập tối thì ba anh em tôi ăn uống xong, có gì thì phải ăn lúc trời còn sáng vì tối thì làm gì có đèn đóm gì đâu mà thấy đường, trời rất nóng và oi bức, anh Lai ngồi cạnh tôi cầm cây quạt đan bằng lá thốt nốt quạt đuổi muỗi, anh em tôi ngồi uống nước nấu củ sâm gừng thay nước trà, sư cả Om thì ngồi đối diện anh em tôi và đang lẩm nhẩm đọc kinh, bỗng nhiên trong ngôi chùa đổ nát tối om bỗng vang lên tiếng mõ rất to và rõ ràng đều đều cùng cả loạt tiếng rì rầm rì rầm như tiếng của rất nhiều người đang tụng kinh, anh Lai thì sững người dừng quạt còn sư cả Om thì như bật dựng lên vội vàng quay lưng lại sụp xuống dập đầu lia lịa người run bần bật líu ríu tay chân, tôi cũng giật nảy người nếu không có phản xạ của sư cả Om và anh Lai chắc tôi nghĩ mình bị ảo thanh..tôi đứng dậy bước qua khoảng sân đứng đó nhìn vào phía trong ngôi chùa thì tiếng mõ bỗng im bặt và nghe như có tiếng gì như tiếng thở dài rất to phía trong, phải nói thật là tôi đã nổi hết gai ốc khắp người và rất hoang mang lúc đó vì không hiểu có ai ở trong đó lại gõ mõ như vậy, tuy nhiên chả có đèn có đóm gì nên tôi cũng không dám vào trong đó coi sao chỉ biết đứng ngoài sân nhìn vào thôi, ngôi chùa thì đổ nát hoang tàn tới thê lương vào ban ngày còn thấy rờn rợn huống hồ ban đêm..

Lần khác thì là buổi chiều tà tà thôi trời chưa tối, chúng tôi đi mót sắn về đang ngồi trên sân chùa nhặt những mẩu sắn để nấu ăn với nhau bỗng nhiên trong chùa vang lên một tiếng chuông rất to, to tới mức chói tai và cả ba chúng tôi cùng bật lên như những cái lò xo, sư cả Om sợ quá khuỵu luôn chân xuống miệng ú ớ không biết nói gì đó, còn anh Lai bám chặt lấy tay tôi mặt anh trắng bệch cặp mắt thất thần nhìn tôi, bản thân tôi cũng kinh hãi nổi ốc túa mồ hôi lạnh, nếu như ở chỗ khác mà gặp chuyện kỳ dị thì tôi không ngại ngần gì phản ứng lại ngay, nhưng nơi chùa chiền linh thiêng khiến tôi hoảng thật sự, tôi đứng gần như chêt trân..không dám chạy vào bên trong xem tiếng gì vừa kêu vì tất cả chúng tôi đều biết trong ngôi chùa đó không còn chiếc chuông nào cả tới những cái mõ gỗ cũng chẳng còn nguyên vẹn nói gì tới chuông hay tượng Phật…

Tôi chỉ biết đứng im cúi đầu chắp tay khấn vái xin các vị chư Phật bỏ qua nếu như chúng tôi có mạo phạm điều gì, tuy rằng vào chùa giả làm sư vì công việc nhưng thâm tâm tôi chưa bao giờ dám nghĩ điều gì coi thường những nơi tôn nghiêm cả và còn thành kính hơn các nhà sư lúc trước còn ở đó..

Cả ba chúng tôi đều nghe tiếng chuông và tôi tin là tiếng chuông vang lên thật, vì khi đó không chỉ chúng tôi bật dậy mà tôi nhìn thấy cả những con dơi bên trong chùa bay tán loạn ra ngoài.

Lúc anh em tôi ra ở phía ngoài đầm nước thì còn gặp những chuyện quái đản hơn, tôi nhớ một lần buổi trưa tôi nằm trên chiếc võng là hai chiếc bao xác rắn chúng tôi khâu liền lại và cột hai đầu thành cái võng, một đầu võng cột vào một nhánh của một cây xoài khá lớn nhưng không bao giờ có trái, một đầu cột vào một nhánh khác, từ dưới đất phải leo lên một nhánh cây mới lên chiếc võng đó nằm được, và do khoảng cách hai cành cây gần nhau nên không nằm duỗi thẳng người được chỉ có thể nằm co hoặc gác chân lên cành buộc võng, tóm lại nhìn nó giống một chiếc xích đu hơn là cái võng.

Buổi trưa rất nắng tôi mệt nên leo lên đó nằm ngủ, đang ngủ thì tôi thấy chiếc võng như bị lay rất mạnh tôi nhớ là có mở mắt ra và nhìn thấy có hai thằng bé con chừng mười tuổi trần truồng da đen xì đang ra sức đẩy cái võng, tôi ú ớ quát chúng không đẩy nữa thì chúng cười ngoác miệng đầy răng đen xì rồi đẩy mạnh hơn, cáu quá tôi ngồi dậy chửi om lên, thì đột nhiên người như bừng tỉnh khi nghĩ quanh đây làm gì có dân ở và tôi choàng tỉnh hẳn cúi nhìn xuống gốc cây chẳng hề có ai cả, trưa nắng nóng đứng gió mà chiếc võng tôi vẫn đang như chao qua chao lại, lần đó tôi chỉ nghĩ mình ngủ mê nhưng cũng ám ảnh vì cái miệng rộng ngoác cũng những chiếc răng đen xì của thằng bé con trong mơ.

 

Lần thứ hai thì tôi bị sốt, lúc đó thì anh em tôi đã nghĩ ra cách đào hầm dưới những hộc cây sắn dây, ở đó có vài hộc sắn còn sót lại chuột đã đào ăn hết củ và cái hộc to như cái mả bị chuột đào rỗng hết bên trong, anh em tôi chỉ phải khoét thêm gác ít cây ngang cây chống là thành cái hầm trú ẩn tuyệt vời giữa trời nắng nóng bức, phía trên có lùm lá sắn to bản rậm rạp che nắng rất tốt, tôi nằm trong đó bảo anh Lai xúc đất đắp lên người tôi hở mỗi cái đầu ra vừa mát vừa dễ chịu, anh Lai thì đi bắt dế, chúng tôi hay đi đào ổ kiến bọ nhọt bắt kiến bỏ vào cái chai to, nhổ ít bông cỏ đuôi sóc gặp lỗ dế thì lấy ngọn cỏ cho vào chai cho vài con kiến bám vào rồi rút ra ngoáy vào lỗ tổ dế, dế sợ kiến phải bò ra là lụm, toàn dế cơm to đùng như ngón tay đem về bóp bụng đi rang với muối ăn chống đói.

Tôi nhớ đang nằm mê man ngủ thì tự nhiên thấy như ai thò tay vò vò trên đầu mình rồi móc tay vào hai lỗ mũi, cố gắng hé mắt thì tôi thấy như có bàn tay trẻ con nhỏ nhỏ trên mặt đang móc mũi mình, giống như nó đang ngồi phía trên đầu mình và móc mũi mình ngược lên, dù rất mệt nhưng cảm giác lạ quá khiến tôi cố gắng mở mắt coi xung quanh thì lại không thấy gì, vừa thiếp ngủ được chút lại như có ai đạp vào bụng khiến tôi choàng tỉnh chỉ thấy thoắt một cái có hình bóng của một đứa trẻ chân dài như một con khỉ vọt lên phía miệng hầm, lần này thì tôi tỉnh hẳn, tôi ngồi dậy chui ra khỏi hầm nhìn quanh, xung quanh cũng có nhiều cây rậm rạp nhưng tuyệt nhiên không có động tĩnh gì, tự nhiên người tôi cứ rùng mình liên tục, thấy cảm giác lạ lạ tôi lần vào hang moi cây dao găm lên cặp sẵn ở tay và khoanh tay lại nằm yên như ngủ…, mãi chẳng thấy gì nên tôi lại thiếp đi, lần sau thì tôi mê một giấc mơ rất lạ, tôi thấy thằng bé hôm nọ có cái miệng đen xì cùng vài ba đứa trẻ nữa có đứa mất cả hai chân, chúng cứ nhảy nhót ở cửa hầm và há miệng hay lè lưỡi trêu tôi, tôi còn nhớ mình còn chỉ tay doạ chúng tao mà dậy là chêt mẹ mày đó con..nhưng có vẻ chúng không sợ chúng còn ném vào mặt tôi một trái xoài..

Cũng như lần trước, trong cơn mê ngủ lơ mơ tôi chợt như bừng tỉnh khi nghĩ ủa quanh đây làm gì có dân..? Vậy là lại choàng tỉnh lần này thì tôi thấy không ổn vì trong miệng tôi toàn là đất..

Tôi không ngủ nổi nữa nên ngồi dậy đợi anh Lai về.

Chui ra khỏi hầm lấy nước uống xong khi thấy anh Lai về bắt được nhiều dế thì mừng quá hai anh em vội vặt cánh bóp bụng để rang ăn mải làm quên cả kể cho anh Lai nghe câu chuyện lạ lúc sáng.

Cho tới vài ba bữa sau, tôi nhớ đêm đó đang ngủ như có ai thúc mạnh vào người khiến tôi bật ngay dậy, tôi thấy anh Lai như đang bới đất moi cây sung ngắn lên làm gì đó, tôi vội hỏi có gì vậy anh?

Anh Lai vừa thở hồng hộc vừa nói anh em mình chuyển chỗ đi, tôi bảo anh có chuyện gì mà đêm hôm này chuyển đi đâu?

Anh Lai ngồi im một lúc rồi bới đất lấp khẩu sung ngắn lại, anh thì thào bảo tôi, nằm đây tụi nó phá quá..

Hai anh em không ngủ nữa dậy ngồi thì thào nói chuyện với nhau, trời đêm đó mát mà người anh ướt hết mồ hôi, anh Lai kể anh liên tục mơ thấy có vài đứa con nít về chọc phá không cho anh ngủ, rồi chúng còn thò cây tre vát nhọn vào hầm tính chọc vào cổ anh..

Tôi hỏi anh tụi nhỏ nào? Ở đây làm gì có ai?

Anh Lai lẩm bẩm bảo tôi tụi này là tà ma chứ không phải người..

Hôm sau chúng tôi phải tìm ụ sắn mới để đào hang nhưng cái ụ mới là hang chuột ở lâu rồi và nhiều chuột trong đó nên mùi rất hôi lại thêm vị trí không kín như cái hang cũ, tôi quyết định bảo anh quay lại hang cũ làm cái phên che cửa hang lại tối ngủ mỗi anh em thủ sẵn cây dao trong tay, đêm trước khi ngủ hai anh em ngồi quấn thuốc hút rồi lẩm bẩm chửi, đêm tụi mày còn phá tao túm được tao lột da..cứ chửi vậy thôi chứ biết làm gì hơn, đường cùng rồi kệ cha tụi mày phá gì thì phá các ông cứ ngủ.

 

Sau thì có vẻ chúng tôi ít bị ác mộng hơn, nhưng lại hay bị mất đồ một cách rất bí ẩn, như cái hộp quẹt và gói thuốc rê tôi từng kể, rồi thỉnh thoảng chả có gió bão gì mà cái tấm liếp che cửa sáng dậy thấy chả biết sao cách miệng hầm tới vài ba mét, rồi nhiều đêm vừa nằm được lúc anh em còn chưa ngủ đang thì thào nói chuyện với nhau thì nghe tiếng lịch bịch như tiếng chân người phía ngoài, anh em nín thở móc đồ nghề lên chờ sẵn xem có biến gì..chán thì chả thấy gì cả.

Đặc biệt là có đâu một hai lần khi anh em tôi còn thức và mới vừa nói chuyện với nhau xong một chút đang im lặng thì bỗng nhiên nghe như có tiếng con nít cười đùa gì đó léo nhéo phía ngoài nghe rất rõ chứ không phải loáng thoáng, cả hai anh em nín thở không biết chuyện gì, nằm im nghe thì lại chẳng có gì xảy ra cả, xung quanh lại chỉ có tiếng giun tiếng dế.

Phải nói thật rằng nhiều lúc tôi tức lắm, đã khổ sở rồi đêm ngủ còn bị chuyện nọ chuyện kia nhưng tức điên mà chẳng biết làm sao, ở chỗ khác chắc tôi thảy ra ngoài hầm trái M67 cho tụi bay đỡ phá, nhưng ở nơi đó thì đành ngậm đắng nuốt cay thôi kệ cha tụi mày làm gì thì làm các ông cứ ngủ thôi.

Kể cho bà con nghe chơi vậy thôi chứ phải nói thật là khi đó cả hai anh em chỉ là “thấy” trong lúc ngủ mê, chứ thật sự là khi tỉnh thì nào có ai thấy gì đâu, nên có thể là anh em tôi lúc đó khổ quá hoá ảo giác thôi chứ chưa chắc đã có ai “trêu chọc” gì mình, mà nếu đúng là “có gì” thì có khi phải nói đúng là chúng tôi mới là những kẻ đến phá đám nơi ở của “họ” chứ vì “họ” ở đó từ trước khi chúng tôi tới rồi, nên tôi chưa làm điều gì gây thù chuốc oán với “họ” vẫn là may cho tôi..

Sau này nghĩ lại nên lúc quay lại đó thăm lại những nơi xưa tôi có ra tận chỗ chúng tôi ở cũ đó, anh Lai thì không còn, lục cả Om thì cũng đã mất.. chỉ còn mình tôi, tôi có mua chút bánh trái ra để ở nơi đó, khu ruộng hoang thì giờ họ đã trồng tiêu rất nhiều chỉ còn bên những bụi tre là vẫn rậm rạp và hoang vắng như xưa, những bụi tre gai còn um tùm hơn xưa, những ụ sắn dây ngày xưa thì không còn lại chút dấu vết gì, cái cây xoài chẳng bao giờ có trái cũng không còn chỉ còn những bụi tre gai và cỏ dại dường như luôn bất tử, cái đầm nước vẫn còn cảnh vật thay đổi nhiều, ngôi chùa mới xây cũng to đẹp hơn xưa..tuy nhiên thì tôi vẫn nhớ rõ những vị trí cũ, những kỷ niệm đau khổ thời đó như một vết thương mãi chẳng thể lành..

Tôi đã thắp những nén nhang và chắp tay tạ lỗi với những ai đã nằm ở đó đã bị tôi quấy quả không yên giấc, vì công việc thôi chứ bản thân tôi không bao giờ muốn ở nơi đó một giây một phút nào..xin thông cảm và thứ lỗi cho tôi nếu tôi đã suy nghĩ sai hay làm sai điều gì…

 

Related Posts

Những Bức Ảnh Nhìn Có Vẻ Bình Thường Nhưng Lại Ẩn Chứa Những Sự Thật Đáng Sợ

Thông thường, mọi người dùng những bức ảnh để ghi lại khoảnh khắc và kỉ niệm đẹp trong cuộc đời mình. Nhưng bên cạnh những sự kiện…

Ma Quỷ Dân Gian Ký

ĐÊM TRĂNG THỨ 38: ÂM BINH Ông bà ta có câu “trần sao, âm vậy”, âm-dương đồng nhất lý: ý nói những sự tương đồng trong cách…

Cô đơn đấy em à!

Có khi nào đi xem phim một mình chưa? Cũng muốn đi với ai đó, mà lại không biết rủ ai. Có bao giờ sau một ngày…

Hữu hạn?

“Nếu kí ức là một cái hộp, tôi mong nó sẽ không hết hạn. Nếu có một cái hạn được đề vào, tôi hy vọng nó sẽ…

Fake Shadow Street Art

Một nghệ sĩ đường phố San Francisco tên Damon Belanger đã vẽ những chiếc bóng giả, đúng vậy, là vẽ á mọi người, bên dưới các vật…

[Nghiêm Túc] Điều Gì Đáng Sợ Nhất Hoặc Khó Giải Thích Nhất Đã Xảy Ra Với Bạn Mà Bạn Vẫn Còn Nghĩ Về Nó Cho Đến Giờ ?

[Nghiêm Túc] Điều Gì Đáng Sợ Nhất Hoặc Khó Giải Thích Nhất Đã Xảy Ra Với Bạn Mà Bạn Vẫn Còn Nghĩ Về Nó Cho Đến Giờ…

Leave a Reply