CHAP 73:
LAN MAN NGÀY NẮNG
Tôi được nghỉ chút, trước một chuyến đi, ngồi nhớ lại một vài mẩu chuyện tầm phào xin kể lể cho bà con nghe, nếu ai lười đọc xin bỏ qua vì nó dài dòng và lan man ạ, tầm phào nữa.
Nhìn nắng này lại nhớ chuyện cũ ở những nơi ngày trước tôi ở.
Lâu rồi..
Ngày đó tôi ở đường 5, từ Sisophone đi Battambang, qua Mongkol borei gần tới Prey tetoeng hướng lên Battambang. Từ Sisophone lên qua chợ Mongkol rẽ trái vào hướng chùa Dongrul, ngày đó thì cái ngã ba Khilik nó chưa đông và đẹp như bây giờ, nơi đó thì không giàu có như Mongkoy borei nhưng cũng khá hơn so với nhiều nơi khác, đường xá đẹp và nhiều nhà xây xen lẫn nhà sàn, nhà sàn ở Cam thì nhiều nơi khác so với Lào hay Việt Nam, nó chỉ cao tới bụng hay cùng lắm ngang ngực người ta thôi, và nơi này cũng khá lạ là phía sau khu dân cư ở đông thì là rất nhiều những cái trảng rộng mênh mông ngút tầm mắt và toàn lúa ma mọc với sậy nếu có nước, còn không thì cỏ tranh, cao lút đầu người cùng với ô rô và ngành ngạnh mà cây ô rô thì gai đã kinh rồi nhưng so với ngành ngạnh thì chỉ là hàng tôm tép thôi, vì gai ngành ngạnh dài tới 15-20 cm có lần tôi thấy có anh bị nó đâm xuyên qua cả bắp tay, nhức buốt sưng vù, và những con sâu ở cây đó cũng là nỗi khiếp đảm của tôi, nó to như ngón chân cái béo múp và xanh lè.
Ở đó chúng tôi được huyện đội cho ở nhờ một căn nhà.
Mới đầu thì chả biết gọi đó là căn nhà gì, vì nó rộng lắm và có cả tường bao quanh, tuy rằng phần đa những bờ tường rào đó đã đổ, xung quanh phía sau thì không có dân ở, chỉ là trảng trống và đồng lúa ma với táo dại.
Nghe vài người nói lại thì nó xưa là nhà của một điền chủ thời trước, qua thời LonNon và Polpot lấy lại làm công sở, nhà việc, có thời gian nó được làm bệnh viện, trạm xá dã chiến của quân tình nguyện, dân gần đó phía ngoài bờ kênh khá đông nhưng chẳng mấy khi họ dám bén mảng tới ngôi nhà này, buổi tối có đi qua thì họ cũng đi rất nhanh, ban đầu chúng tôi cũng không để ý lắm cứ nghĩ họ ngại gì đó, sau máy múc về múc cái con mương phía bên phải khu nhà để khơi thông lấy nước từ kênh sang làm ruộng thì cơ man là xương người dưới cái mương nước nửa khô nửa nước đó, chắc thời Polpot nhiều người chết ở đó.
Trước khi chúng tôi ở thì có vài đoàn từng ở, tôi có nghe một vài anh em từng ở đó sau lên Xiemriep kể lại nơi đó nhiều “ma quỷ” lắm..họ kể nhiều và chúng tôi cũng chỉ biết ngồi hóng thôi, chứ đâu nghĩ có ngày được vinh dự về đó mà ở đâu.
Ngôi nhà này chia làm ba dãy rộng lắm, một dãy chính giữa và hai dãy hai bên, hình chữ U, nhưng dãy bên trái thì đổ gần hết nên bỏ hoang, chúng tôi ở mấy căn phòng dãy chính giữa, ngay bãi đậu xe và cái cột cờ.
Ở nơi đó hai ba lần tôi đã gặp chuyện lạ.
Lúc đó phương tiện đi lại của chúng tôi ngoài xe honda ra thì còn có một chiếc xe ô tô hiệu Citrooen, lúc đó thì chiếc xe đó thuộc loại xịn sò lắm bà con ạ, một hôm anh Q đi về muộn, trời mưa, anh phàn nàn là đèn cos cái xe cứ chiếu lên trên khiến anh khó nhìn đường, thế là hai anh em mở nắp cabo chỉnh lại cái đèn cho dễ nhìn, chỉnh đèn thì một anh ngồi trong xe nổ máy bật đèn, một anh vặn con ốc hoa mai ở phía sau cụm đèn cho ánh đèn lên cao hay xuống thấp theo ý.
Hai anh em loay hoay chỉnh khi anh Q vừa đóng nắp cabo lại tôi ngồi phía trong xe bật đèn pha, khi ánh đèn pha chiếu lên bờ tường phía dãy nhà ngang bên phải thì tôi giật mình. Ngay trên mái hiên dãy nhà là vài bóng người đen thui ngồi trên đó, chân thả xuống phía dưới đu đưa, tôi mở cửa xe ra chỉ cho anh Q, anh Q cũng giật mình sững người giây lát, rồi hai anh em nhanh chóng “tác chiến” ngay, cùng móc súng ra lên đạn và vẫy nhau áp sát, và ngỏng cổ nhìn lên…nói thật, ban đầu tôi nghĩ là anh em ở nhà leo lên cây vú sữa để bắt ong, vì trên cái cây vú sữa cổ thụ trùm nóc nhà ngang đó có một tổ ong, trời mưa ong ướt cánh thì anh em lên bắt thôi, nhưng khi anh em tôi tiến tới gần thì những bóng đen kia tự nhiên đứng dậy và tụt lùi vào phía trong mái nhà. Sững người lại một lúc, anh Q gọi anh em nhà giữa ra, thì mọi người vẫn còn đang ngủ chứ không có ai đi bắt ong cả, chúng tôi nhanh chóng chia ra hai mũi bao vây kín cái nhà ngang lại, soi đèn kiểm soát phía dưới, anh T lấy cái thang sắt ra bắc lên phía cái ô cửa trên có nóc nhô lên và trèo lên, Th thì trèo lên cây vú sữa, tôi thì leo lên vai L trèo lên phía vành hiên phía sau căn nhà, cả ba anh em cùng quan sát phía trên nóc nhà…chẳng có ai trên đó cả, chỉ toàn lá mục từng lớp dày và trơn tuột..
Tất cả lại tụt xuống, nhưng chưa hết sự lạ. Cái xe đang nổ máy chiếu đèn pha sáng trưng bỗng nhiên rú ga ầm ĩ phụt cả khói đen xì ra nhưng không có ai ngồi trên xe, anh T vội chui vào xe tắt máy và bật đèn trần kiểm tra, cửa xe thì vẫn mở mà không có ai trong xe, chẳng hiểu sao máy xe lại rú lên từng nhịp như có ai đạp ga vậy..
Đó là một lần.
Lần sau thì còn lạ hơn nữa.
Hôm đó cũng tầm tháng 6 tháng 7, trời rất nóng, anh em ngồi họp với nhau, lúc đó chúng tôi dùng đèn gió đá, loại đèn chế thủ công từ cattut đạn pháo 37 thành, nó rất sáng, ánh sáng như đèn neon, khi đang ngồi họp thì tôi là người ngồi đầu tiên ngoài cái bàn tròn dài, đối diện tôi là cậu L, bỗng L gõ nhẹ lên mặt bàn và đưa mắt nhìn tôi rồi khẽ nhướng mắt ra phía ngoài sân, theo ánh mắt L, tôi nhìn ra phía sân, thì trời..có tới gần chục cái bóng đen xì đứng im lìm ngoài sân trăng, tất cả anh em đều nhìn thấy không riêng hai chúng tôi, anh Q đang chủ trì đứng phắt dậy quát to; Ai phía ngoài kia, các anh đơn vị nào?? Bộ phận nào??
Có tiếng bên ngoài, tiếng Việt giọng miền Nam; Chúng tôi mất chốt rồi..mất hết rồi chừ chạy về đây…!!
Đúng lúc đó thì cây đèn gió đá bỗng phè lửa như lửa hàn, ngọn lửa nửa xanh nửa đỏ cách xa cái đầu ống đèn tới 10 phân và kêu phì phì, tất cả anh em đều giật mình tá hoả nhảy bật dậy hết, anh Gi. vồ lấy cây đèn chỉnh lại lửa, ai dùng loại đèn đó hẳn biết khi mở xoay nước vào nhiều thì nó sẽ phù lên như vậy, nhưng lúc đó tất cả anh em tôi 8 người không ai đụng tới cây đèn cả..
Khi cây đèn bình thường trở lại thì ngoài sân không còn ai cả, chỉ có cậu T được phân công ngồi cổng gác, chạy vào nói; Các anh gọi gì em?
Chẳng có ai gọi cả, cậu T đang ngồi gác thì có một người đi ra vỗ vai nói giọng Nghệ An, Hà Tĩnh nói, mấy ổng gọi em vào trong, để đó anh coi cho..
Lạ là lúc đó đơn vị chúng tôi 9 người nhưng không có ai người Nghệ Tĩnh cả, nhưng cậu Thịnh vẫn nghe và đứng lên chạy vào trong sân nhà như một cái máy vô thức…
..
Sau đó vài ngày thì anh em nhiều người lại nhớ lại, lúc anh Q hỏi thì ngoài sân có nhiều tiếng lao xao trả lời, trong đó có câu ..Q16, mà Q16 thì chỉ tham chiến ở đó và đã rời đi lâu lắm rồi, chẳng còn ai ở lại..
Tất cả chúng tôi 5 anh em còn sống vẫn nhớ như in hình ảnh và âm thanh đêm hôm đó của họ, những bóng người chỉ màu đen, quần áo rách và xắn cao tới gối, người mang mũ người không, và không có quân trang, hay ba lô gì cả..
Có lẽ là những người anh của trung đoàn anh hùng đó vẫn còn lẩn quẩn ở nơi đó mà chưa về Việt Nam.
Nếu như một mình tôi nghe thấy hay nhìn thấy thì tôi sẽ nghĩ chắc mình hoa mắt nghe lầm thôi, nhưng tất cả anh em đều thấy, thậm chí còn ngửi thấy mùi chua mốc nồng nặc lúc đó khi những cái bóng đen đứng ngay phía cửa bốc ra…thì thật chẳng thể giải thích được gì hơn, chỉ có thể nói là một hình ảnh bí ẩn và lạ lùng.
..
Câu chuyện thứ hai mà tôi nhớ lại và kể cho mọi người nghe thì còn lạ lùng và bí ẩn tới phi lý hơn nữa.
Sau đó một thời gian chúng tôi chuyển lên Svaychek thuộc Battambang, gần cầu 176 hướng vào Tacong..
Nói tới “bùa ngải” ở Campuchia, thì phải nói tới Tacongcrao, giống như khi ta nói tới dân ca quan họ thì phải nói tới Bắc Ninh vậy. Một thứ “phi vật thể, vô hình” nhưng đầy bí ẩn, ám ảnh và khiếp sợ với nhiều người..
Bây giờ thì tôi không biết “bùa ngải” có còn hay không, nhưng lúc đó thì tôi tin là nó có thật, vì rất nhiều chuyện tôi biết về cái “thế giới” đó, và từng trực tiếp “va chạm” với thứ đó, như tôi vẫn nói, tôi không phải người mê tín và yếu bóng vía, thậm chí từng là kẻ vô thần, nhưng những gì tận mắt chứng kiến, mắt thấy tai nghe, tay sờ mà vẫn phủ nhận thì chắc chỉ kẻ ngu mới vậy.
“Bùa ngải” anh em tôi biết và thấy nhiều, tuy nhiên tôi sẽ không kể những chuyện đó sâu, vì mất công những người chưa biết, chưa thấy, chưa gặp lại vào chửi tôi nói dóc để “câu lai, câu viu” nó mất hay bà con ạ.
Tôi chỉ xin kể một câu chuyện này, nó có tý chút liên quan tới chuyện “bùa ngải”.
Lúc đó chúng tôi ở phum Solsaong cách ngã ba Kralanh chừng gần 10 km, dân rất đông. Ngày trước thì không có dân mấy nhưng sau giải phóng thì dọc biên giới đường buôn lối mòn qua Thái buôn bán nhiều như mạng nhện, nên người tứ xứ đổ về đó đi buôn bán, lúc đó cái sự buôn bán nó cực khổ trăm bề chứ không đơn giản, bị mìn chết, rồi tàn quân cướp giết, hiếp nhẹ thì bị chúng tóm được bắt đào hào, có tới hàng trăm km hào giao thông nham nhở khắp nơi do các lực lượng tàn quân bắt dân đào.
Chúng tôi ở nhờ nhà vườn của một cặp vợ chồng người Thái, nhà này có tất cả 6 người, hai vợ chồng ông bà tên thật là gì thì chúng tôi không biết chỉ nghe gọi là ông bà Lăng, ông Lăng có luyện bùa và từng có thời gian làm trưởng phum Saong đó. Ông bà Lăng có ba người con, đều là gái và một bà mẹ già hơn 80 tuổi, hai cô con lớn cùng bà mẹ thỉnh thoảng vẫn vượt biên buôn hàng hoá từ Thái về. Còn bà cụ già mẹ ông bà Lăng thì chúng tôi chẳng thấy mặt bao giờ, chỉ nghe thấy tiếng bà ho và thỉnh thoảng hát ư ử trên nhà, bà ở riêng một căn nhà sàn gỗ rất chắc chắn, còn nhà ông bà Lăng là căn nhà xây hai tầng quay lưng ra đường phum xung quanh trồng rất nhiều cam, chanh.
Một lần cậu em mới đã lén ăn trộm vài quả cam để ăn, và kết quả là nó bị đau bụng lăn lộn và đi ngoài, không phải bình thường mà đi kiết lỵ, lúc đó mà bị kiết lỵ thì rất nguy hiểm vì dễ kiệt sức và chết rất nhanh, vì thuốc men thiếu.
Bình thường thì chúng tôi chỉ cần tìm mua ba quả trứng vịt rồi luộc lên chấm với đường ăn là khỏi, nhưng cậu em này vẫn không khỏi, bí quá chúng tôi nhờ cậy ông bà Lăng và phải nói thật là cậu em có bẻ trái cam trong vườn nhà ông bà ăn, chúng tôi khiêng cậu em lên cho nằm ở cái sân trước cửa nhà ông bà, sau khi hỏi vài câu, ông Lăng đi lên nhà, tôi không biết ông dùng thuốc gì chỉ thấy hai bàn tay ông ướt và có mùi gì như rượu bay ra, ông đặt tay vào bụng nó rồi vuốt ngược lên ba lần, sau đó hất đầu ra hiệu bảo chúng tôi khiêng nó về, chứ cũng không cho uống thuốc hay gì cả, vậy mà cậu em khỏi ngay trong buổi chiều..thật lạ lùng.
Một hôm, tôi và anh Tân được mời qua đơn vị bạn ăn nhậu nhẹt, đi vòng đường chính thì xa, anh T dắt tôi đi cắt “góc phương vị” như trinh sát, qua giếng nước rìa cái ao nhà ông Lăng, qua dãy nhà để đồ làm vườn của nhà ông, loanh quanh làm sao chúng tôi đi nhầm lên phía căn nhà sàn của bà cụ ở, theo đúng quy tắc cắt thì gặp cái ao to đó phải lội qua bên kia rồi định hướng lại “phương vị” mà ao thỉ toàn đỉa trâu dài cả 2-30 phân, bố thằng nào dại mà lội xuống, hai anh em lại vừa đi vừa nói chuyện rỉ rả với nhau chả để ý đường nữa, tới lúc vào vườn cam chanh thấy ngôi nhà sàn rồi mới biết “lộn chuồng” đang ngáo ngơ tìm đường đi thì tôi thấy anh T bấm vào vai tôi ra hiệu im lặng, và anh liếc mắt lên sàn ngôi nhà gỗ kia, tôi và anh thấy trước sàn gỗ, có một đứa bé ngồi, cách chừng chục bước chân thì tôi trông đó là một đứa bé, tôi còn nghe cả tiếng nó hát hay nói gì đó, thanh âm the thé thì đúng là của đứa trẻ thật. Tò mò không biết đứa trẻ nào hai anh em cùng tới gần xem, thì ôi thôi..hoá ra không phải.
Đó là một bà già nhỏ bé đang ngồi múa may và hát gì đó, thoáng thấy chúng tôi bà vỗ hai tay vào sườn như con gà vỗ cánh rồi cười hé hé, lạ là tuy tiếng cười phát ra nhưng khuôn mặt bà rất giận dữ, bà nhe bộ răng cái còn cái mất ra như doạ chúng tôi.
Tự tiện vào nhà người Lào hay người Thái là điều mà nhiều nơi họ kiêng, nên chúng tôi không dám vào mà chỉ len lén đi qua, lấm lét liếc trộm bà già đó như hai thằng ăn trộm thôi. Bà cụ già lưng còng gập, cởi trần và quấn một cái sà rông phía dưới, bà ngồi trên một tấm nệm vải đen xì cáu bẩn kinh người, cái đầu chồ ra đằng trước và tiếng cười phát ra he hé nhưng mặt bà lại như đang giận dữ, thấy lạ quá tôi đứng lại quên cả phép tắc lịch sự cứ nhìn bà chằm chằm, một mùi xú uế bốc ra từ phía bà, thấy vậy anh T kéo tai tôi lôi đi.
Vừa chui qua rào lên tới ngang con dốc thì nghe tiếng xe máy, chả hiểu sao lại gặp ông Lăng, ông ta nhìn chúng tôi có vẻ rất giận dữ, khi nghe chúng tôi nói qua xã đội ăn cơm với anh em, ông không nói một câu nào chỉ gật đầu rồi rồ máy phóng đi. Tôi cứ thắc mắc tại sao thái độ ông ta lạ vậy nhỉ? Mà chẳng biết hỏi ai, hỏi anh T thì anh cũng như tôi thôi.
Sau đó vài hôm khi lần mò trong Thmaloung ra, vừa lên cây cầu gỗ thì chúng tôi bị phục kích bất ngờ, vì lâu lắm rồi không ai bị, tôi đi đầu phúc tổ ba đời quả đạn M79 rơi chỉ cách chưa tới 1 mét, không nổ mà xoay tít phụt khói, anh Thiện đi sau tôi túm tóc tôi giật ngược nhào xuống mương nước tay trái anh móc súng ngắn ra bắn lại, chơi kiểu “tao ngộ” này thì anh Th là bậc thầy, trời trăng sáng lờ mờ mà tôi nghe rõ tiếng “póc” của đạn từ súng anh Th vào đầu thằng cầm M79, nó quay quay như con gà tôi nện thêm bốn năm phát nữa nó mới nằm im, còn hai thằng kia một thằng chạy mất hút sau mấy lùm cây, một thằng chạy ra phía đồng lầy, tôi đuổi theo làm vài phát nữa thì hết đạn, vừa móc hộp tiếp đạn mới ra chưa kịp thay thì thấy nhoàng lửa một cái, bùn nước toé loe, tưởng ăn lựu đạn nó nhưng hoá ra không phải, thằng chạy trong bụi kia đã bắn AT, loại gắn trên súng AK, anh L bị thương nặng..hai anh em xốc anh L chạy về, các anh em khác nghe súng nổ cùng du kích bạn xách súng ùa ra phía chúng tôi.
May mắn tới thần kỳ, tôi chỉ bị một mảnh đạn AT như một miếng sắt uốn cong vào bả vai, nó trổ xuyên qua bên kia như ta móc lưỡi câu vào thân con cá để câu vậy, vào phần mềm và nhẹ nên tôi còn không thấy đau, chỉ khi anh em thấy máu chảy và khi cử động cái áo móc vào thì nhoi nhói chút tôi mới biết.
Lên trạm xá nằm mấy hôm thì thì tôi mới hóng được chuyện khá lạ do cô Pai y tá kể cho nghe, là dạo này không biết có dịch gì đó hay bị chất độc gì của tàn quân nó rải hay sao mà có tới 4-5 ca người dân tới đẻ toàn bị chết con, có vụ chết cả mẹ lẫn con…
Tới sau đó chừng chục bữa, hôm đó sáng sớm chúng tôi nghe ầm ĩ phía ngoài, mấy anh em vội chui ra hóng coi chuyện gì, thì thấy lính bạn ùa vào nhà bắt trói ông Lăng, chả hiểu sao. Ban đầu thì anh em nghĩ là ông Lăng là pot chìm thôi, chuyện dân là pốt, pốt như dân, hay ngày là ta đêm là địch ở đây thì quá bình thường hơn cơm bữa không có gì lạ cả..
Nhưng vụ ông Lăng kia lại không phải vậy, họ bắt ông ta tội trộm…xác chết.
Ở Cam nhiều nơi lúc đó tôi gặp thấy khá lạ, con nít chết có nơi thì thiêu như thiêu người lớn tức là chất củi đốt, có nơi không thiêu cũng chả chôn, mà người ta quẳng ra sông, xin thề là vậy, nếu nơi nào gần sông họ thả ra sông rồi làm cái bè bỏ lên đó quần áo với gạo ghiếc gì đó sau đó là xong, tôi cũng không hiểu có phải tục lệ của họ vậy không..
Thật tiếc là sau đó tới chừng 9 giờ tôi và anh Th phải đi Sisophone, ra đó hai ngày sau thì anh em rút hết để đi Pailin, anh Chun Sên xã đội phó lấy xe ô tô cùng vài người lính chở anh em lên Sisophone, tới nơi, lúc ăn cơm chiều thì tôi mới sực nhớ ra vụ ông Lăng, lúc đó thì đi rồi thì có gì ngại nữa, tôi hỏi anh Sên vụ việc ông Lăng là sao, thế là anh Sên với mấy anh lính tranh nhau kể chúng tôi mới ngẩn người ngớ ra với nhau..
Theo anh Sên kể lại thì ông Lăng là thầy bùa, người Cam thì họ thừa nhận và không giấu diếm chuyện “bùa chú” gì đó, bản thân anh Sên cũng là thầy bùa, anh giờ lên tướng và đã nghỉ hưu đầu năm 2000. Theo các anh nói lại thì ông Lăng luyện bùa và bùa công nên phải nuôi “binh” có nghĩa nôm na như là phải đi bắt những linh hồn vất vưởng về trói buộc và nuôi họ để họ phục vụ cho những mục đích riêng của ông ta, nhưng do ông này bị phạm gì đó..gọi là “thul” đại loại như kiểu ăn chay mà lỡ tay gắp miếng thịt chó vậy, nhưng ăn chay theo Phật thì khác, Phật thì từ bi có thể bỏ qua ( chứ không thì khối thằng sư đểu mỡ hành, trơn lông đỏ da thời nay Ngài vặn cổ đem xuống ngục trị tội lâu rồi) chứ theo ma thì ma lại khác Phật, một là một hai là hai chứ không có chuyện ú ớ, phạm là bị quật ngay.
Ông Lăng này đã giết bốn cô gái và cắt đầu đem về luộc chín lóc thịt ra rồi chôn bốn góc căn nhà sàn gỗ, nhưng vẫn không ngăn được việc bà mẹ bị quỷ nhập, theo như người Cam kể, thì nuôi “binh” phải là thầy cực giỏi mới có thể trị được “âm binh” và “âm binh” tụ đông sẽ sinh tà khí hoá “quỷ”.
“Quỷ” thì là một khái niệm hoàn khác “ma”…túm lại là tôi sợ “khái niệm” này và luôn tránh không dám hỗn hào đụng chạm tới, vì đó không phải trò đùa bà con ạ…
Khi người nuôi “binh” bị lỗi “thul” đại khái như những lỗi ko ăn kiêng, tà dâm, chui qua dây phơi đồ, hay để người khác phá nơi nhốt “binh” hoặc làm gì đó trái với lời nguyền của hệ phái họ theo..vv, thì “pháp” của thầy bùa mất linh và “âm binh” trỗi dậy làm phản, người ta vẫn nói tới nhiều người dùng “bùa ngải” rồi không tuân thủ “luật” bị quật lại đó. Nghiệp quật của hệ phái đó sợ nhất là “hoá Quỷ”, ông Lăng đã phải đi bắt con nít mới sinh về phục vụ cho bà mẹ già hoá Quỷ trong nhà, thực ra bà mẹ già đó hình như đã chết lâu rồi, ngự trong cái thân xác đó có thể là một “thực thể” khác chứ không phải con người, chuyện này kể ra có vẻ hoang đường và khó tin, tôi cũng không biết và không dám nói gì, nhưng bản thân tôi từng nhìn tận mắt vài ba trường hợp mà người ta nói bị “Quỷ” nhập kiểu vậy, và nghe nhiều người kể, tuy nhiên ngày trước nhiều hơn chứ giờ không thấy nói nữa.
“Quỷ” thì chỉ cười hoặc gầm gào, gầm gừ với nội lực rất mạnh phát ra thôi chứ không nói tiếng như con người, và con người không thể đối đầu với “khái niệm” đó, những tay xưng là thầy onlin nhan nhản trên mạng vỗ ngực nói bắt “Quỷ nghìn năm tuổi” là nói phét, 100% là nói phét bà con ạ, tôi dám đảm bảo là vậy, không phải như họ nổ đâu, ba cái “vong ma” còn nổ được chứ thứ kia thì còn lâu..
Bà cụ già kia hoá “Quỷ” hay bị “Quỷ” nhập gì đó, tôi thì không được chứng kiến lúc người ta lôi ra từ căn nhà gỗ đó, chỉ nghe kể lại là những người lính đã phải mời những nhà sư tới cùng nhau làm “phép” gì đó, và khi ông Lăng đi đâu đó về thì bị họ ập vào bắt khi lục trong chiếc giỏ xé ông buộc ở bên xe ra thì có một hài nhi đang trương phình, không hiểu ông ta lấy cái xác ở đâu và bằng cách nào, và có một người trong số những người có con chết kia đã chôn xác con trong vườn nhà, nhưng khi họ ra đào lên xem thì chẳng còn gì ở đó nữa, cái xác đã bị đào lấy mất từ lúc nào và đất lấp lại như bình thường.
Còn bà mẹ kia khi người ta phá cửa vào thì đã gần như thối rữa cả hai chân hai tay dù chỉ có hai ba ngày sau khi ông con bị bắt, các thầy tu, thầy pháp phải lấy “đạo bùa” úp lên mặt và đóng cọc mun xuống cái xác, 6 cây cọc hai chân, hai tay, một cây ở ngực và một ở miệng sau đó đưa lên giàn thiêu.
Thật tiếc là những công đoạn đó tôi không được chứng kiến chỉ nghe kể lại, tôi chỉ được may mắn nhìn thấy bà già đó trước đó ít ngày, có vẻ như đó là một cơ thể còn sống, vì tôi thấy bà cụ đó vẫn cử động được, và chỉ nghe bà cười thôi chứ không nghe thấy nói gì cả, và tôi có ngửi thấy mùi thối bốc ra, nhưng lúc đó thì chỉ nghĩ rằng do bà ở dơ thôi chứ hoàn toàn tôi không hề nghĩ một chút gì về những việc khác, nếu lúc đó mà có nghe ai đó xì xào nói gì về bà cụ đó bí ẩn ma quái thì chắc tôi cũng cố nán lại xem cho kỹ hơn chút, rồi sau đó ba chân bốn cẳng zọt cho lẹ.
Chuyện cũ lan man và dài hơi, chỉ đọc cho vui chứ tôi không cần bà con phải tin làm gì cho ám ảnh thêm ạ.